Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Liên kết

Quảng cáo

Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterTuần này69
mod_vvisit_counterTháng này69
mod_vvisit_counterTổng truy cập3941

Hiện có: 36 guests online

Đảng ủy

Toàn văn Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”

Ngày 15.5, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Chỉ thị 05- CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trang thông tin điện tử của Đảng ủy Khối Doanh nghiệp tỉnh xin trân trọng giới thiệu toàn văn Chị thị quan trọng này:

"Sau 5 năm thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XI về "Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã đạt được kết quả bước đầu, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay". Tuy nhiên, việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh còn có những hạn chế, chưa trở thành việc làm thường xuyên, chưa thành ý thức tự giác của không ít tổ chức đảng, cơ quan, địa phương, đơn vị và một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, phát huy những kết quả đã đạt được, khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XI về "Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Bộ Chính trị yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội các cấp quán triệt và thực hiện tốt một số nội dung sau :
1- Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân, đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thành công việc tự giác, thường xuyên của cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, trước hết là của người đứng đầu, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên.
Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Tiếp tục làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2- Tổ chức học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng, thường xuyên, liên tục và có hệ thống bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động các nội dung chủ yếu về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Đó là hệ thống quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, về khối đại đoàn kết toàn dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về xây dựng, phát triển kinh tế và văn hoá, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng; về chăm lo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng,... Đó là các quan điểm và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về : tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên tất cả; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, tận trung với nước, tận hiếu với dân; hết lòng yêu thương đồng bào, đồng chí, yêu thương con người; cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư, thật sự là công bộc của nhân dân, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội,... Đó là phong cách Hồ Chí Minh, phản ánh những giá trị cốt lõi trong tư tưởng, đạo đức của Người và được thể hiện vô cùng sinh động, tự nhiên, độc đáo, có sức thu hút, cảm hoá kỳ diệu trong hoạt động, ứng xử hằng ngày. Đó là : phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn gắn chặt lý luận với thực tiễn; phong cách làm việc dân chủ, khoa học, kỹ lưỡng, cụ thể, tới nơi, tới chốn; phong cách ứng xử văn hoá, tinh tế, đầy tính nhân văn, thấm đậm tinh thần yêu dân, trọng dân, vì dân; phong cách nói đi đôi với làm, đi vào lòng người; nói và viết ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm; phong cách sống thanh cao, trong sạch, giản dị; phong cách quần chúng, dân chủ, tự mình nêu gương,...
3- Đưa việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vào chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và nội dung sinh hoạt thường xuyên của chi bộ, gắn với các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị; gắn với việc xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam, xây dựng hệ giá trị văn hoá và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.
Lấy kết quả học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một trong những tiêu chuẩn đánh giá, bình xét, phân loại đảng viên, tổ chức đảng hằng năm.
4- Lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai thực hiện theo phương châm trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau; học đi đôi với làm theo, chú trọng việc làm theo bằng những hành động và việc làm cụ thể. Xây dựng, tổng kết và nhân rộng những điển hình tiên tiến về làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh, kết hợp giữa "xây" với "chống".
Đề cao trách nhiệm nêu gương, tự giác học trước, làm theo trước để nêu gương của người đứng đầu và cán bộ chủ chốt các cấp, của cán bộ, đảng viên trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn với đánh giá, nhận xét cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức hằng năm và cả nhiệm kỳ. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị với phương châm "sát chức năng, nhiệm vụ, ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện và đánh giá việc thực hiện". Hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan đến đạo đức công vụ.
5- Tiếp tục chỉ đạo biên soạn chương trình, giáo trình về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để giảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân và các học viện, trường chính trị, trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các cấp, bảo đảm phù hợp với từng cấp học, bậc học và với yêu cầu giáo dục, đào tạo.
Đối với học sinh phổ thông, dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, học tập về đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với giáo dục công dân, đạo đức nghề nghiệp. Đối với học sinh đại học, cao đẳng, có các bài giảng, chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh. Đối với học sinh đại học chuyên ngành lý luận chính trị, học viên trường chính trị, đoàn thể và lực lượng vũ trang cần xây dựng hệ thống các bài giảng, chuyên đề học tập tư tưởng Hồ Chí Minh.
6- Về tổ chức thực hiện
Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do cấp uỷ các cấp, trực tiếp là ban thường vụ cấp uỷ, đồng chí bí thư cấp uỷ chỉ đạo.
Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư chỉ đạo việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và xã hội.
Căn cứ Chỉ thị của Bộ Chính trị, các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức và hướng dẫn việc thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ở địa phương, ngành, tổ chức, cơ quan, đơn vị mình.
Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan giúp việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị; ban tuyên giáo cấp uỷ và cơ quan tuyên giáo các ngành, đoàn thể là cơ quan giúp việc cấp uỷ và lãnh đạo các ngành, đoàn thể cùng cấp chỉ đạo tổ chức thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị.
Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các cơ quan nghiên cứu làm sâu sắc thêm những nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, xây dựng chương trình, hướng dẫn nội dung học tập, sinh hoạt định kỳ, sinh hoạt chuyên đề của các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp; định hướng nội dung, chương trình giảng dạy về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân; xây dựng kế hoạch sơ kết, tổng kết hằng năm và toàn khoá trình Ban Bí thư ban hành; chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng, đội ngũ báo cáo viên tuyên truyền về các điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những cách làm sáng tạo trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đồng thời uốn nắn những biểu hiện lệch lạc, những cách làm hình thức, kém hiệu quả.
Chỉ thị này phổ biến đến chi bộ."
 

Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ

Ngày 30-10-2016, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc toàn văn nghị quyết.

I - TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN
1 - Tình hình

Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, hơn 86 năm qua Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường quốc phòng - an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng.
Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đã tạo được những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị. Quá trình tự phê bình và phê bình đã góp phần đấu tranh với những suy nghĩ và hành vi sai trái nhằm cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực. Nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đạt được một số kết quả; tích cực đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch. Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào thành công của đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021.
Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu. Nội dung sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu. Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số việc chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao. Việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của người đứng đầu với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.
2- Nguyên nhân
Tình hình trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.
1) Nguyên nhân khách quan:
Tác động từ khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; từ mặt trái của kinh tế thị trường, những hoạt động lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; nhiều vấn đề mới, phức tạp phát sinh từ thực tiễn nhưng chưa được lý giải và xử lý kịp thời, hiệu quả.
Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình", lợi dụng các vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ súy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.
2) Nguyên nhân chủ quan:
Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra. Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế. Chưa chú trọng xây dựng, tuyên truyền, nhân rộng những mô hình mới, điển hình tiên tiến, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực.
Một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp chưa có quyết tâm chính trị cao; việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết. Chưa có cơ chế khen thưởng những tập thể, cá nhân tổ chức thực hiện nghị quyết sáng tạo, có hiệu quả và xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc.
Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời. Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở. Thiếu cơ chế để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác, kém hiệu quả trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền lương, nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức.
Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, còn có biểu hiện "nhẹ trên, nặng dưới". Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình. Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ, xử lý chưa đủ nghiêm minh. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu; việc kê khai tài sản, thu nhập còn hình thức.
Chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ. Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.
Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.
II - NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA"
1- Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị
1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.
3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.
5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.
6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.
7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.
8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.
9) Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.
2- Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống
1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.
2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.
3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.
4) Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu".
5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.
6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.
7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực. 
8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.
9) Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.
3- Biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ
1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng".
2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự". Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hóa" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.
6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.
7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.
8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.
9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.
III - MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM
1- Mục tiêu
Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
2- Quan điểm
Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.
Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước. Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.
IV - CÁC NHÓM NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP
Đại hội XII đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:
1- Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình
1) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị.
2) Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.
3) Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân. Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.
4) Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp ủy các cấp. 
5) Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất.
6) Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất; chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm quy định về thông tin, báo chí, tuyên truyền.
7) Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 
8) Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái. Tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
9) Cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
10) Hằng năm hoặc khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với cán bộ, tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên là: chương trình hành động của tập thể và cá nhân; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả thực hiện cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
2- Về cơ chế, chính sách
1) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Trước mắt, rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
2) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế "xin - cho", "duyệt - cấp"; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, "lợi ích nhóm", "sân sau", trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế... Tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt.
3) Kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương. Thực hiện chế độ hợp đồng có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước.
4) Đẩy mạnh xã hội hóa, tách cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức. Rà soát, thoái vốn, cổ phần hóa, chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp quân đội và công an sản xuất kinh doanh thua lỗ, không phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
5) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, "liên hoan", "gặp mặt" không lành mạnh, với động cơ không trong sáng; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, như: phân công, phân cấp, thẩm quyền quản lý, quy trình bổ nhiệm,... nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tổng thể, liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị và chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.
6) Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương trong đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
3- Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
1) Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng. Xử lý nghiêm tập thể, cá nhân ban hành văn bản không đúng, không phù hợp hoặc thực hiện không nghiêm túc các nội dung nghị quyết, kết luận của Đảng; khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân thực hiện có hiệu quả.
2) Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp ủy các cấp chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận.
3) Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương và cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của ủy ban kiểm tra các cấp trong việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên. Rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.
4) Tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời, xem xét tư cách đảng viên và phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.
5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật; trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm và công khai kết quả xử lý.
6) Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Cấp ủy các cấp chỉ đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên; đồng thời, tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa ngay những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.
7) Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên. Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định.
8) Xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" nghiêm trọng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng phải chịu trách nhiệm nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
4- Về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội
1) Các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
2) Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân.
3) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
4) Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên. Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp.
5) Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
V - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch thực hiện, xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đảng ở Trung ương và trực thuộc Trung ương; phân công cụ thể và chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết.
2- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, thể chế hóa, cụ thể hóa nội dung Nghị quyết thành các văn bản pháp luật để thực hiện.
3- Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy, cơ quan trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt, chủ động xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.
Ban Chấp hành Trung ương tin tưởng rằng, với truyền thống cách mạng vẻ vang và bản chất tốt đẹp của Đảng, ý thức tự giác của từng cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của từng đồng chí Ủy viên Trung ương, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp và được nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhất định toàn Đảng sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết, để Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị và tư tưởng, thống nhất cao về ý chí và hành động, trong sạch về đạo đức và lối sống, chặt chẽ về tổ chức, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân.
Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.
 

Đề cương Nghị quyết 9 khóa XI

ĐỀ CƯƠNG

giới thiệu Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về

“Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu

phát triển bền vững đất nước”

----------------

A. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 9, KHÓA XI

I. Hội nghị thường kỳ, nằm trong Chương trình làm việc toàn khoá của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI.

Họp từ ngày 08 đến ngày 14-5-2014 tại Thủ đô Hà Nội.

II. Nội dung bàn 10 vấn đề, chia làm 3 nhóm

Nhóm thứ nhất: Bàn về các vấn đề chuyên đề

1. Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khoá VIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trên cơ sở đó, Hội nghị đã thông qua Nghị quyết “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” (Nghị quyết số 33 ngày 09-06-2014).

2. Tổng kết thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường;

3. Đề án tổ chức Đảng bộ Ngoài nước và đã quyết định đặt Đảng bộ Ngoài nước trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương, giao Ban Bí thư trực tiếp chỉ đạo;

Nhóm thứ hai: Thảo luận và quyết định một số vấn đề về xây dựng Đảng và chuẩn bị tiến tới Đại hội XII của Đảng

1. Thảo luận và thông qua Quy chế bầu cử trong Đảng;

2. Đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện Quy định số l65-QĐ/TW, ngày 18-02-2013 của Bộ Chính trị về lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp uỷ và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội;

3. Cho ý kiến về Đề cương Báo cáo chính trị trình Đại hội XII của Đảng;

4. Cho ý kiến về Đề cương Báo cáo phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 trình Đại hội XII của Đảng;

5. Thảo luận tổng kết thực hiện Chỉ thị số 37, ngày 04-8-2009 của Bộ Chính trị khoá X, cho ý kiến về dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng;

Nhóm thứ ba: Thực hiện những công việc thường xuyên, đột xuất của Ban Chấp hành Trung ương

1. Cho ý kiến về Báo cáo các công việc quan trọng BCT đã giải quyết từ HN TƯ 8 đến HN TƯ 9 ( tháng 10/2013 đến tháng 5/2014);

2. Nghe báo cáo về việc Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD 981 vào vùng biển của Việt Nam và chủ trương, biện pháp của ta.

B. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NGHỊ QUYẾT SỐ 33 NQ/TW, NGÀY 5/2014, VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NỀN VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

Văn hoá có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội; đến nay, trên thế giới đã thống kê có hơn 400 định nghĩa về văn hóa. UNESCO đã định nghĩa văn hóa trong bản tuyên bố về những chính sách văn hóa tại Hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì năm 1982 tại Mexico như sau:

- Văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng.

Và khẳng định vai trò của văn hóa là: Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân; làm cho con người trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới, những công trình vượt trội bản thân.

- Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra những ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học - nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng; toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó, mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

* Về một số chủ trương, quan điểm của Đảng về văn hóa:

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giành sự quan tâm đặc biệt tới sự phát triển văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực phát triển đất nước.

- Ngay trong thời kỳ đầu của cách mạng, Đảng ta đã ban hành Đề cương văn hóa Việt Nam (năm 1943) do cố Tổng Bí thư Trường Chinh soạn thảo - Đây được coi là Cương lĩnh văn hóa đầu tiên của Đảng, có tác động sâu sắc tới phong trào cách mạng Việt Nam, tạo nên phong trào văn hóa cứu quốc phát triển mạnh mẽ trong những năm 1943 - 1945, góp phần giành thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Trong bối cảnh lịch sử đầu những năm 40 của thế kỷ XX, trước ách thống trị, áp bức bóc lột của thực dân Pháp, phát xít Nhật, Đề cương văn hoá của Đảng đã trình bày hệ thống các phạm trù, các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, phương châm, nguyên tắc của cuộc vận động văn hóa của dân tộc Việt Nam. Những quan điểm tư tưởng trong Đề cương văn hoá có sức thuyết phục sâu sắc và là ngọn cờ tập hợp đông đảo tầng lớp trí thức Việt Nam thực hiện cuộc vận động văn hóa, cuộc cách mạng giải phóng tư tưởng cho mỗi người, mỗi tầng lớp, giai cấp và toàn dân tộc.

+ Nội dung của Đề cương gồm nội hàm chủ yếu của văn hóa Việt Nam bao gồm cả tư tưởng, học thuật và nghệ thuật; xác định văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa) mà ở đó, người Cộng sản phải hoạt động, phải lãnh đạo cách mạng chính trị và cách mạng văn hóa. Đề cương xác định xây dựng nền văn hóa ở Việt Nam là văn hóa xã hội chủ nghĩa.

+ Đề cương đã xác định nền văn hóa mới của Việt Nam có tính chất dân tộc và dân chủ; đồng thời xác định 3 nguyên tắc của cuộc vận động văn hóa ở nước ta thời kỳ này là:

Dân tộc hóa: Chống mọi ảnh hưởng nô dịch và thuộc địa khiến cho văn hóa Việt Nam phát triển độc lập.

Đại chúng hóa: Chống lại mọi chủ trương, hành động làm cho văn hóa phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng.

Khoa học hóa: Chống lại tất cả những cái gì làm cho văn hóa trái khoa học, phản tiến bộ.

- Sau thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945, với vị trí “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo xây dựng và phát huy sức mạnh vĩ đại của nền văn hóa mới Việt Nam trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.

+ Tại Đại hội đại biểu lần thứ III của Đảng năm 1960, đã xác định: “Mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về vǎn hóa và kỹ thuật là làm cho nhân dân lao động có trình độ vǎn hóa ngày càng cao, nắm được những hiểu biết cần thiết về khoa học và kỹ thuật, áp dụng được những hiểu biết đó vào việc xây dựng một nền vǎn hóa, khoa học và kỹ thuật tiên tiến, thiết thực phục vụ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, nâng cao không ngừng đời sống vật chất và vǎn hóa của nhân dân”.

+ Đại hội IV năm 1976 của Đảng đã bổ sung và nhấn mạnh: “Phải đưa công tác giáo dục, văn hoá, nghệ thuật tiến lên một bước mạnh mẽ, xây dựng nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân”.

+ Đại hội toàn quốc lần VII của Đảng thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, đã chỉ rõ: “Nâng cao đời sống văn hoá và tinh thần của nhân dân, xây dựng nền văn hoá mới, lối sống mới, con người mới, bắt đầu từ mỗi gia đình”.

+ Tiếp đó, ngày 16/7/1998, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã ban hành Nghị quyết về “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”- Đây là Nghị quyết chiến lược về văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và được coi là Cương lĩnh văn hóa trong công cuộc đổi mới đất nước.

II. LÝ DO BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT

Một là, xuất phát từ vai trò của văn hoá đối với sự phát triển của đất nước. Trong giai đoạn hiện nay, cùng với phát triển kinh tế, văn hoá ngày càng đóng vai trò quan trọng, quyết định đến sự phát triển của xã hội, của đất nước; văn hoá được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người và bản sắc, cốt cách một dân tộc.

Hai là, trong bối cảnh nước ta đang hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực, trong đó có văn hóa và sự bùng nổ các phương tiện truyền thông, nhất là mạng internet, đã tác động to lớn, sâu sắc đến nhiều lĩnh vực, đòi hỏi phải có những quan điểm chỉ đạo và chủ trương, giải pháp mới về xây dựng nền văn hóa, xây dựng con người.

Ba là, xuất phát từ thực trạng văn hóa nước ta cũng xuất hiện một số mặt phức tạp, bức xúc, đang suy thoái khá nghiêm trọng, nhất là về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; sự xâm nhập các sản phẩm, dịch vụ độc hại, tác động đến nhiệm vụ xây dựng con người, cần được bổ sung về mặt lý luận và đòi hỏi sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị để khắc phục.

Bốn là, xuất phát nước ta đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; quá trình đó liên quan mật thiết đến đổi mới tư duy, cách làm và huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực cho sự nghiệp văn hóa.

Năm là, xuất phát từ yêu cầu phát triển đất nước bền vững trong những năm tới cũng đang đặt ra những vấn đề mới về văn hóa, nhất là phải có nhận thức mới về vai trò của văn hóa trong phát triển.

Sáu là, xuất phát từ sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8, sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đã có chuyển biến tích cực và đạt được kết quả quan trọng. Tuy nhiên, tình hình đất nước ta và thế giới có nhiều thay đổi. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa ban hành khi nước ta mới bước vào kinh tế thị trường giai đoạn đầu, chưa thấy hết mặt trái của cơ chế thị trường, có nhiều vấn đề phát sinh sau này mà Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII chưa đề cập. Vì vậy, cần bổ sung và sắp xếp, hoàn thiện lại các chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp cho phù hợp. Cụ thể:

III. TÊN GỌI CỦA NGHỊ QUYẾT

- Tên gọi của nghị quyết mới là: “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”

- Tên gọi Nghị quyết vừa kế thừa nội hàm của Nghị quyết Trung ương 5 khóa 8, vừa nêu được vấn đề mới mà Trung ương đặc biệt quan tâm đó là: “Nhân tố con người và sự phát triển bền vững đất nước”.

+ Vấn đề con người: khi nói về văn hóa cũng là nói về con người, vì văn hóa là của con người, do con người, vì con người. Tuy nhiên, trong thực tế, không ít trường hợp đã hiểu sai lệch, coi văn hóa là những công việc, những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa như: múa hát, biểu diễn, lễ hội…, không tập trung cho mục tiêu trọng tâm, cốt lõi là xây dựng con người. Do đó, trong Nghị quyết Trung ương lần này có thêm một quan điểm khẳng định vấn đề trọng tâm, cốt lõi của xây dựng văn hóa là xây dựng con người. Thêm từ “con người” vào tên Nghị quyết là để nhấn mạnh, khẳng định điều đó.

+ Vấn đề phát triển bền vững: xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ. Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng, phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội. Mục tiêu này phù hợp với khát vọng lâu đời của nhân loại và là mục đích phát triển bền vững, tiến bộ của mỗi quốc gia, dân tộc.

IV. NỘI DUNG NGHỊ QUYẾT

1. Đánh giá tình hình phát triển văn hoá trong thời gian qua:

1.1 Về kết quả đạt được:

Sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về văn hoá đã đạt được những kết quả tích cực:

(1) Tư duy lý luận về văn hóa có bước phát triển; nhận thức về văn hóa của các cấp, các ngành và toàn dân được nâng lên. Vai trò của văn hóa ngày càng thể hiện rõ nét hơn trong đời sống xã hội, trong hoạt động của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp. Dân chủ trên các lĩnh vực đời sống xã hội được mở rộng; dân trí được nâng lên; quyền con người được tôn trọng.

(Đối với tỉnh ta, trong những năm qua, cùng với chăm lo phát triển kinh tế, các cấp uỷ đảng, chính quyền luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo phát triển văn hoá, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, cán bộ, đảng viên có sự chuyển biến nhận thức về văn hóa, xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển; tích cực xây dựng và phát triển văn hoá, hướng các hoạt động văn hóa vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng con người Thanh Hóa kiểu mẫu.)

(2) Nhiều chuẩn mực văn hóa, đạo đức mới được hình thành. Đạo đức xã hội được nhìn nhận, đánh giá trên nhiều bình diện mới.

(3) Đời sống văn hóa của nhân dân ngày càng phong phú. Môi trường văn hóa đạt được một số tiến bộ. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và cuộc vận động xây dựng “Gia đình văn hóa” đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ; đến cuối năm 2012, cả nước có 70,8% gia đình được công nhận gia đình văn hóa; trên 1,3 triệu “người tốt, việc tốt”; 67,1% làng, bản, ấp văn hóa, tổ dân phố văn hóa; 57,9% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa; 61% khu dân cư đạt chuẩn văn hóa.

Ở tỉnh ta, Cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”  đã trở thành phong trào quần chúng rộng khắp, huy động cả hệ thống chính trị, các lực lượng xã hội tham gia. Đến nay, toàn tỉnh có 74% số làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị đăng ký khai trương xây dựng đơn vị văn hoá; 74% hộ gia đình đạt gia đình văn hóa, 68% cơ quan, đơn vị, trường học, bệnh viên, doanh nghiệp đạt văn minh công sở, 77% khu dân cư tiên tiến. Toàn tỉnh có 4.980 nhà văn hóa từ tỉnh đến làng, bản, khu phố. Các công trình văn hóa: Công viên Hội An, Nhà hát Lam Sơn, Quảng trường: Lam Sơn, Lê Lợi, Hàm Rồng; Khu văn hóa tưởng niệm Bác Hồ, Đền thờ Bà mẹ Việt nam anh hùng và các anh hùng liệt sỹ, Thư viện tỉnh, Trung tâm Hội chợ và Triển lãm tỉnh… đã và đang xây dựng và đưa vào hoạt động, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hoá của nhân dân.

Nhiều lễ hội như: Lam Kinh, Lê Hoàn, Mai An Tiêm, Bà Triệu; lễ kỷ niệm khởi nghĩa Ba Đình, Chiến khu Ngọc Trạo,... đã có tác dụng giáo dục truyền thống sâu sắc trong nhân dân. Phong trào xây dựng xã hội học tập trở thành điểm sáng trong cả nước, đã khơi dậy ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, tinh thần hiếu học, sự cần cù, sáng tạo của vùng đất, con người Xứ Thanh.

(4) Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng, góp phần quan trọng vào việc xây dựng các thiết chế văn hóa. Đến ngày 01/01/2013, có 100% đơn vị cấp tỉnh, 78,2% đơn vị cấp huyện, 44,8% đơn vị cấp xã, 46% làng, bản, tổ dân phố trong cả nước xây dựng được thiết chế văn hoá. Các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn học - nghệ thuật... có chuyển biến tiến bộ, góp phần đẩy mạnh phát triển văn hoá (đến nay, tỉnh ta đã có 1 nghệ sỹ nhân dân, 36 nghệ sỹ ưu tú).

(5) Công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh mẽ, nội dung phong phú, cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ không ngừng được hiện đại hóa, tận dụng được công nghệ mới. Đến cuối năm 2013, cả nước có 199 cơ quan báo chí, 639 tạp chí, 04 Đài Phát thanh - Truyền hình Trung ương, 67 đài phát thanh truyền hình địa phương với tổng số 198 kênh truyền hình, 64 nhà xuất bản, đã tạo điều kiện cho người dân có nhiều cơ hội lựa chọn, tiếp nhận thông tin, tri thức, góp phần rút ngắn khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền (năm 2012, tỷ lệ hộ gia đình được nghe đài phát thanh là 99,5%, được xem truyền hình là 99,5%, số người dùng Iternet đạt 35% dân số).

Trên địa bàn tỉnh ta, công tác thông tin tuyên truyền và hệ thống thông tin đại chúng có nhiều chuyển biến, nội dung và hình thức thông tin được đổi mới. Đến cuối năm 2013, tỷ lệ phủ sóng phát thanh Trung ương đạt 95%, tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt 85%; tỷ lệ phát thanh tỉnh đạt 75%, tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt 65%. Hiện nay, có 5 cơ quan báo chí của tỉnh, 24 văn phòng đại diện và phóng viên thường trú của các báo ngành, đoàn thể, hội, báo chí Trung ương và thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh được cấp phép hoạt động trên địa bàn.

Cùng với tỷ lệ phủ sóng của Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, đài Truyền thanh - Truyền hình các địa phương, Đài Phát thanh - Truyền hình đã tăng thời lượng phát sóng tiếng Thái và tiếng Mông; Báo Thanh Hóa có phụ trương Dân tộc và miền núi... góp phần làm phong phú thêm đời sống tinh thần của nhân dân các dân tộc thiểu số tỉnh Thanh Hóa.

(6) Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần cho nhân dân. Đến cuối năm 2013, trong cả nước đã có 48 di tích được xếp hạng di tích cấp quốc gia đặc biệt, 3.202 di tích cấp quốc gia, 7.484 di tích cấp tỉnh, 9 di sản văn hoá và thiên nhiên được UNESCO công nhận là di sản thế giới (mới thêm Tràng An được công nhận là di sản văn hoá, lịch sử thiên nhiên của thế giới; di sản văn hoá, lịch sử thiên nhiên được các nhà khoa học Mỹ xác định sự tồn tại 4.000 năm của dân tộc Việt Nam). Nhiều phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số được nghiên cứu, sưu tầm và phục dựng; đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số được nâng lên.

Trên địa bàn tỉnh hiện có 1.535 di tích lịch sử văn hoá, trong đó Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, di tích Lam Kinh xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt; hơn 700 di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, trong đó cấp quốc gia là 141 di tích, cấp tỉnh là 574 di tích, nhiều di sản văn hoá phi vật thể gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc.

Từ năm 1998 đến nay, trên địa bàn tỉnh có gần 300 di tích được trùng tu, tôn tạo bằng nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, hơn 400 di tích tại các địa phương được trùng tu, tôn tạo bằng nguồn vốn của địa phương huy động. Các di tích sau khi trùng tu, tôn tạo đã phát huy được giá trị vốn có và phát triển du lịch như: Di tích lịch sử Lam Kinh, Thành Nhà Hồ, đền Bà Triệu, đền Lê Hoàn, đền Đồng Cổ, thái miếu Nhà Lê, phủ Trịnh, di tích Ba Đình, chiến khu Ngọc Trạo… Nhiều giá trị truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào các dân tộc được gìn giữ và phát huy như: lễ hội Mừng cơm mới; hội văn hoá các dân tộc miền núi; lễ hội Khai hạ, Mường Đòn, Mường Khô, Mường Xia, Mường Ca Da, Căm Mường, Nàng Han, Đền Thi...

(7) Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được quan tâm. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân được bảo vệ và đảm bảo trên thực tế. Hoạt động văn hóa từng bước thích ứng dần với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

Trong thời gian qua, tỉnh ta đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các chính sách tôn giáo, tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân. Hoạt động giao lưu văn hoá được quan tâm thực hiện. Tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động hợp tác kinh tế, văn hóa - xã hội, thu hút nhiều tổ chức, nhà hoạt động văn hoá trong khu vực và quốc tế đến tham quan, nghiên cứu văn hóa về Thanh Hóa, như: văn hoá Đông Sơn, hang Con Moong, văn hóa Đa Bút, Gò Trũng, Thành Nhà Hồ, Lam Kinh… đăng cai tổ chức thành công Hội nghị tham vấn các Ủy ban quốc gia UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

(8) Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường, thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện. (Quốc hội đã ban hành Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Di sản văn hoá, Luật sở hữu trí tuệ, Luật Điện ảnh... và Chính phủ đã ban hành các Văn bản để triển khai thực hiện). Đã đầu tư xây dựng thêm nhiều công trình văn hoá, đáp nhu cầu sinh hoạt văn hoá của nhân dân; tỷ lệ chi cho văn hoá ở Trung ương cơ bản đảm bảo tỷ lệ 1,8% tổng chi ngân sách.

(9) Công tác đào tạo cán bộ và chuẩn bị nhân lực cho hoạt động văn hóa được quan tâm hơn. (cả nước hiện có 33 trường đại học, 47 trường cao đẳng, 27 trường trung cấp có đào tạo nhân lực hoạt động văn hoá)

(10) Công tác xây dựng văn hoá trong hệ thống chính trị được coi trọng. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa đạt được kết quả tích cực. (Từ khi Việt Nam là thành viên của WTO, đã và đang tham gia nhiều khuôn khổ liên kết kinh tế, văn hóa quốc tế; đang tích cực tham gia đàm phán Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương (TPP) là điều kiện thuận lợi cho văn hóa Việt Nam phát triển).

*Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được Trung ương đã nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá, so với những thành tựu trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thành tựu trong lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng; chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh; thiếu sự gắn bó chặt chẽ giữa văn hóa với kinh tế, chính trị; giữa các lĩnh vực của văn hóa. Nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế còn nặng về lợi ích kinh tế, coi nhẹ nhân tố văn hóa, con người và môi trường.

1- Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và trong xã hội có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống tinh thần của xã hội. (Năm 2012, cả nước xảy ra 8.820 vụ vi phạm pháp luật do 13.300 trẻ em, người chưa thành niên gây ra, tập trung nhiều nhất là ở độ tuổi từ 16 đến 18 tuổi chiếm hơn 60%; độ tuổi từ 14 đến 16 tuổi chiếm hơn 30%). Nhiều giá trị truyền thống, đạo đức nghề nghiệp không còn được coi trọng như trước đây có mặt bị mai một, đảo lộn (kể cả những lĩnh vực được tôn vinh như giáo dục, y tế).

2- Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng. Theo báo của Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm, từ năm 1998 đến năm 2013, cả nước đã xảy ra trên 17 nghìn vụ giết người, hơn 199 nghìn trẻ em vi phạm pháp luật, 171 nghìn người nghiện ma tuý.

(Ở tỉnh ta, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân khu vực miền núi còn gặp nhiều khó khăn; cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động văn hoá còn thiếu; trang phục, tiếng nói, chữ viết của đồng bào các dân tộc thiểu số đang có nguy cơ mai một; một số vùng núi cao còn tồn tại hủ tục, lạc hậu, nạn mê tín dị đoan; tình trạng sử dụng các loại ma túy có chiều hướng gia tăng.)

3- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nhiều nơi còn mang tính hình thức. Công tác xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tham gia vào hoạt động văn hóa với mục đích kiếm lời là chủ yếu, thiếu chức năng giáo dục.

4- Chất lượng tác phẩm văn học nghệ thuật chưa tương xứng với số lượng, còn ít những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có một số tác phẩm chạy theo thị hiếu tầm thường, chất lượng thấp, thậm chí có hại. Các loại hình nghệ thuật truyền thống có xu hướng bị mai một. Hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật chưa theo kịp thực tiễn sáng tác; tính định hướng, tính chiến đấu chưa cao; đấu tranh chống quan điểm sai trái chưa sắc bén, hiệu quả.

5- Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa hiệu quả chưa cao. (Nước ta hiện có 08 di sản được Unesco công nhận, gồm 05 di sản văn hóa, 02 di sản thiên nhiên và 01 di sản hỗn hợp. Hiện nay, tại các địa phương có di sản thế giới, về mặt hình thức, phần lớn người dân đều vui mừng khi địa phương mình có di sản thế giới, ý thức trách nhiệm của cộng đồng với việc bảo vệ di sản thế giới được nâng lên. Nhưng trên thực tế những nhận thức này chưa tương xứng với nhu cầu bảo vệ di sản; chính quyền và người dân các địa phương có di sản quan tâm nhiều đến việc được hưởng lợi từ di sản hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với việc bảo vệ di sản).

6- Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chưa thực sự là quốc sách hàng đầu, còn nhiều yếu kém, chưa trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện con người và đào tạo nhân lực, phát triển tài năng nhất là nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước.

7- Hệ thống thông tin đại chúng phát triển thiếu quy hoạch khoa học, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển.

8- Việc khơi dậy và phát huy tiềm năng văn hóa, huy động các nguồn lực xã hội cho xây dựng và phát triển văn hóa còn hạn chế. Chi cho văn hóa ở nhiều địa phương chưa bảo đảm tỷ lệ 1,8% tổng chi ngân sách ở địa phương.

9- Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp.

10- Công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa các cấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao còn nhiều hạn chế, bất cập.

11- Hoạt động giao lưu, hợp tác văn hóa với nước ngoài còn hạn chế cả về đầu tư nguồn lực, về tầm nhìn, tính hiệu quả. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ. (Trong một số cuộc thi tìm kiếm giọng hát xuất sắc trên truyền hình ở nước ta gần đây, hầu hết các thí sinh tham dự đều tự chọn hoặc được huấn luyện viên chỉ định lựa chọn các ca khúc nước ngoài để thể hiện thay vì hát bằng tiếng mẹ đẻ bởi cho rằng như thế mới xứng tầm với "đẳng cấp" cuộc thi... Chúng ta, không khó để nhận ra những biểu hiện văn hóa nước ngoài xâm nhập hầu hết các mảng của đời sống văn hóa tinh thần nước ta, song hoàn toàn không dễ để nhìn thấy hay đoán biết trước những hậu quả mà nó sẽ mang lại).

*Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do:

- Nhận thức của một số cấp uỷ đảng, chính quyền chỉ chú ý nhiều đến phát triển kinh tế, có nơi, có lúc còn xem nhẹ phát triển văn hoá. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tiền phong gương mẫu, gây ảnh hưởng không tốt đến việc triển khai thực hiện Nghị quyết.

- Việc cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và thiếu khả thi. Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng; việc xử lý những vi phạm trên lĩnh vực văn hóa chưa đủ mạnh nên kết quả còn hạn chế.

- Chưa nắm bắt kịp thời những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả. Chưa quan tâm đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

- Tỉnh ta, do địa bàn, địa hình rộng, phức tạp, phong tục tập quán của từng dân tộc có cả mặt tiến bộ lẫn mặt lạc hậu đan xen đã tồn tại lâu đời nên ảnh hưởng đến sự giao lưu và phát triển văn hoá giữa các vùng miền; gặp nhiều khó khăn trong xây dựng văn hóa.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức chưa đầy đủ về nội dung của Nghị quyết dẫn đến vẫn còn tư tưởng bảo thủ, lối sống thực dụng vì đồng tiền, vô cảm; một bộ phận nhân dân còn trông chờ, ỷ lại.

Với những lý do trên, tại Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 11 đã ban hành Nghị quyết về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.

2. Dự báo các yếu tố tác động đến sự phát triển văn hoá của nước ta trong thời gian tới

2.1. Về thuận lợi:

- Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chung. Thành tựu, kinh nghiệp của những năm đối mới đã tạo cho đất nước sức mạnh tổng hợp lớn hơn. Nhận thức về vai trò, vị trí của văn hóa ngày càng sâu sắc, toàn diện hơn. Khoa học, công nghệ phát triển mạnh, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa.

- Sự phát triển các hình thức thể hiện mới về văn hóa, nghệ thuật (giao lưu trực tuyến, blog, văn học mạng, truyền hình thực tế, sách điện tử,…), xã hội hóa hoạt động văn hóa; mở rộng, đa dạng, đa phương trong giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa, nghệ thuật,… đang tác động thúc đẩy các hoạt động văn hóa. Các quốc gia trên thế giới chú trọng đến văn hóa với tư cách là “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia trong quan hệ quốc tế.

- Nước ta đang phấn đấu để trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi phải phát huy sức mạnh nội sinh dân tộc, đặc biệt là văn hóa dân tộc. Dân chủ xã hội ngày càng mở rộng. Các tầng lớp nhân dân tham gia ngày càng đông đảo, năng động, tích cực hơn đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nước nhà trong đó cơ chế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

2.2. Những khó khăn, thách thức:

- Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa khắc phục được nhiều.

- Cuộc đấu tranh cho chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc vẫn diễn biến phức tạp; tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải ngày càng gay gắt, khó lường. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, biến đổi khí hậu, mặt trái của quá trình toàn cầu hóa, kinh tế thị trường, công nghệ thông tin, sản phẩm độc hại tác động tiêu cực đến văn hóa, gây biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống.

- Tâm lý bao cấp, thụ động; đội ngũ cán bộ quản lý và trình độ chỉ đạo, quản lý văn hóa bất cập; âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xa rời mục tiêu xa hội chủ nghĩa trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân ngày càng phức tạp, tác động tiêu cực đến cả xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa.

3. Mục tiêu của Nghị quyết:

3.1. Mục tiêu chung: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Giá trị văn hóa là trình độ phát triển các quan hệ nhân tính của một xã hội, của mỗi con người, nó được cộng đồng khẳng định thành một hệ giá trị mà chuẩn mực cơ bản là: Chân, Thiện, Mỹ (đây chính là mục tiêu Nghị quyết đang hướng đến để xây dựng nền văn hoá và con người).

- Ở từng thời kỳ cách mạng thì mục tiêu phát triển văn hoá và xây dựng con người là khác nhau. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, phát triển văn hoá và xây dựng con người để phục vụ cách mạng giải phóng dân tộc, cải tạo xã hội (Đề cương văn hoá năm 1943 đã xác định phát triển nền văn hóa mới của Việt Nam để chống lại văn hoá phát xít, phong kiến, thoái bộ, nô dịch, văn hoá ngu dân và phỉnh dân và phát triển văn hoá cứu quốc đã góp phần quan trọng vận động nhân dân tiến hành tổng khởi nghĩa vào năm 1945). Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu phát triển văn hoá và xây dựng con người phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, mục tiêu phát triển văn hoá trong Nghị quyết lần này nhấn mạnh “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc...”. Sự phát triển văn hóa và con người sẽ tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn để thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ở khía cạnh khác, văn hóa là biểu hiện của sức sống, sức sáng tạo, sức mạnh tiềm tàng của con người, của một dân tộc. Thực tế đã chứng minh, một quốc gia muốn phát triển bền vững, ngoài dựa vào các như tài nguyên thiên nhiên, tiền vốn…; cần phải biết khai thác nguồn lực con người, tiềm năng sáng tạo của con người; mà tiềm năng này nằm trong văn hóa, trong trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, nhân cách, lối sống, ý chí, nghị lực, tài năng và sự thành thạo công việc của mỗi cá nhân và cả cộng đồng (hiện nay đang là vấn đề cạnh tranh của các quốc gia trên thế giới; trong thời đại ngày nay, nguồn gốc của sự phát triển không chỉ là tài nguyên thiên nhiên, vốn, kỹ thuật mà yếu tố ngày càng quan trọng và quyết định là nguồn lực con người); do đó, văn hoá là sức mạnh nội sinh quan trọng đảm bảo phát triển bền vững của đất nước.

Nhận xét về vai trò của văn hoá, Đại văn hào M.Goóc-ki đã khẳng định: “Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi: Hỡi các công dân, văn hóa lâm nguy”.

- Mục tiêu xây dựng văn hoá được Trung ương xác định trong Nghị quyết Trung ương IX, cũng là kết quả của việc tư duy, sáng tạo và ngày càng hoàn thiện lý luận về văn hoá của Đảng, đó là: từ việc xác định văn hoá là một trong 3 mặt trận mà người cộng sản cần quan tâm (Đề cương văn hoá năm 1943); đến một trong 3 cuộc cách mạng phải tiến hành đồng thời (Đại hội IV của Đảng); rồi nâng lên thành: văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (Nghị quyết Trung ương 5 khoá XIII); đến Nghị quyết Trung ương IX khẳng định “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc...”

1.2. Mục tiêu cụ thể:

- Về nội dung:

+ Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam.

+ Tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật.

+ Đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước.

- Về điều kiện:

+ Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

+ Xây dựng văn hóa trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình.

+ Phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách.

- Về thể chế:

+ Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảm xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

+ Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam.

+ Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội. Ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội.

- Một số chỉ tiêu văn hóa đến năm 2020 trong các chiến lược phát triển ở các lĩnh vực của ngành văn hóa, thông tin do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt: 100% số tỉnh, thành phố có đủ các thiết chế văn hóa; 90-100% số quận, huyện, thị xã có nhà văn hóa và thư viện; 80-90% số xã, thị trấn có nhà văn hóa; 60-70% số làng, bản, ấp có nhà văn hóa; phủ sóng truyền hình số mặt đất đạt 80% địa bàn dân cư; đạt 01 bản sách/mỗi người trong thư việc công cộng; đạt 05 bản sách/mỗi người/năm; đạt 01 lượt người/năm đến rạp xem phim điện ảnh; 100% di tích quốc gia đặc biệt, 70% di tích quốc gia được Nhà nước đầu tư bảo tồn; 70-80% số gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa; 65-70% số làng, bản, khu phố đạt tiêu chuẩn làng, bản, khu phố văn hóa; 80% “Doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa” theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; cơ bản đưa các dân tộc thiểu số rất ít người (có số dân dưới 10.000 người) ra khỏi tình trạng cần bảo vệ khẩn cấp về văn hóa. (Các mục tiêu cụ thể trên đã được nêu trong các chiến lược, quy hoạch phát triển văn hoá của Chính phủ).

(Mục tiêu của tỉnh ta phấn đấu đến năm 2020: có 50% số xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới; 50% phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị; 100% thôn, làng, bản, phố ở các huyện đồng bằng, ven biển và 60% ở huyện miền núi có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch).

2. Quan điểm:

Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa, trong bối cảnh quốc tế và đất nước có nhiều biến đổi, đối chiếu nội dung Nghị quyết với thực tiễn, năm quan điểm nêu trong Nghị quyết về cơ bản vẫn còn giá trị, tuy nhiên cần nghiên cứu để bổ sung, phát triển và sắp xếp lại cho phù hợp hơn với giai đoạn hiện nay và sắp tới, nhất là về vấn đề con người.

Quan điểm 1: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.

(Quan điểm này xác định vai trò đặc biệt quan trọng của văn hoá trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Mục tiêu hiện nay chúng ta đang phấn đấu là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trong đó phải giải quyết hài hoà giữa phát triển kinh tế và văn hoá, đảm bảo cho đất nước phát triển bền vững). Vì vậy, Đảng ta xác định xây dựng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội; văn hoá có nhiệm vụ dẫn dắt, điều tiết, định hướng xã hội thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Văn hóa là động lực phát triển đất nước vì văn hóa kết tinh, khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người (đã phân tích ở phần mục tiêu); trong đó, mọi hoạt động kinh tế - xã hội phải đặt con người là trung tâm của sự phát triển. Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã khẳng định: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”; do đó, văn hoá có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.

Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; điều đó, khẳng định vai trò quan trọng, quyết định của văn hoá đến sự phát triển của xã hội, của đất nước. Không phải ngẫu nhiên Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) từng khuyến cáo các nước trên thế giới: "Tiếp thêm sức mạnh của nền văn hoá đương thời và nâng nó lên ngang tầm với sự phát triển kinh tế và xã hội" và "Văn hoá cần coi mình là một nguồn bổ sung trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát triển cần thừa nhận văn hoá giữ một vị trí trung tâm, vai trò điều tiết xã hội".

Quan điểm 2: Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học.

Quan điểm 2 nói về tính chất của nền văn hóa. Nền văn hoá tiên tiến chúng ta đang xây dựng là nền văn hoá yêu nước và tiến bộ, vì sự phát triển toàn diện của con người trong mối quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Nền văn hoá đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc là những giá trị văn hoá được vun đắp qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữa nước của dân tộc ta: Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng  nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống.

- Tính thống nhất trong đa dạng của văn hoá đó là sự thống nhất về truyền thống yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc và các sắc thái văn hoá khác nhau của 54 dân tộc anh em.

- Đặc trưng nhân văn của văn hoá được thể hiện qua xây dựng nền văn hoá hướng tới giải phóng con người, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân tham gia sáng tạo, hưởng thụ nhiều hơn những thành tựu văn hoá của đất nước và nhân loại. (ở chế độ cũ văn hoá chỉ phục vụ tầng lớp quý tộc và chỉ có tầng lớp quý tộc mới được hưởng thụ văn hoá).

- Đặc trưng dân chủ của văn hoá là dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để phát huy tiềm năng sáng tạo, nâng cao trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng, đất nước; đề cao trật tự kỷ cương xã hội; đảm bảo mọi người dân đều được hưởng thụ văn hoá.

- Đặc trưng khoa học: Nền văn hoá phải phải được xây dựng trên lập trường khoa học, phù hợp với điều kiện thực tế; chống giáo điều, mê tín dị đoan.

Quan điểm 3: Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.

- Văn hoá và con người có mối quan hệ biện chứng và không thể tách rời. Đây là vấn đề vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn: văn hóa là do con người sinh ra (vì lẽ sinh tồn và phát triển của mình con người đã sáng tạo ra văn hoá) - nhưng cũng chính văn hóa đã xây dựng nên con người (những giá trị văn hoá đã xây dựng nên ý thức của con người, hướng con người đến chân - thiện - mỹ và hoàn thiện nhân cách con người). Trong xã hội nếu không có con người thì không có văn hóa; mặt khác, nếu không được sinh ra và lớn lên trong môi trường văn hóa thì một cá nhân sẽ rất khó trở thành con người (con người sinh ra không được giáo dục, không được tiếp cận với các hoạt động  văn hoá sẽ không trở thành con người).

Thực tiễn cho thấy, hiện nay sự suy thoái về đạo đức, lối sống của của một bộ phận người dân trong xã hội là hậu quả của việc tách khỏi môi trường văn hóa, không tôn trọng các giá trị văn hóa; ngược lại hoạt động một số loại hình văn hoá chưa hiệu quả, chưa quan tâm phát triển toàn diện con người (giáo dục - đào tạo, văn học nghệ thuật, thông tin truyền thông) đã để lại hậu quả trong xây dựng con người.

Con người là sự kết tinh của nền văn hoá và chính con người là chủ thể của sự nghiệp phát triển văn hoá; do đó, quá trình xây dựng và phát triển văn hoá cũng chính là quá trình thực hiện chiến lược con người và thực hiện chiến lược xây dựng con người cũng là thực hiện sự nghiệp phát triển văn hoá (điều này chúng ta cần phải suy nghĩ và vận dụng trong thực tiễn). Cần hướng các hoạt động văn hoá vào việc xây dựng con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật thì văn hoá trở thành nhân tố thức đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách.

Quan điểm 4: Xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.

Môi trường văn hoá là nơi diễn ra các hoạt động văn hoá từ hoạt động sáng tạo, sản xuất, bảo quản, lưu giữ, truyền bá, hưởng thụ và đánh giá các giá trị văn hoá. Xây dựng môi trường văn hoá đồng bộ, tốt đẹp sẽ góp phần ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. Trong thời gian qua, từ việc thực hiện tốt Cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, “xây dựng gia đình văn hoá” đã nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở khu dân cư, góp phần ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.

Quan điểm 5: Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

Quan điểm này xác định vai trò chủ thể xây dựng và phát triển sự nghiệp văn hoá. Các tầng lớp nhân dân là chủ thể, nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

3. Nhiệm vụ:

3.1. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

- Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách.

Đây là mục tiêu, nhiệm vụ xuyên suốt của Nghị quyết về văn hoá lần này; nhằm phát huy vai trò của văn hoá trong xây dựng con người. Trong đó, văn hoá sẽ  phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của con người Việt Nam; xây dựng và phát triển toàn diện con người đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa". Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng con người Việt Nam phải có những đức tính sau:

+ Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phát huy nội lực, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và tụt hậu.

+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tuân thủ pháp luật, tôn trọng quy ước của cộng đồng, chăm lo xây dựng cộng đồng.

+ Không ngừng nâng cao tri thức, học tập suốt đời; biết suy nghĩ độc lập và tự chịu trách nhiệm, đồng thời có tinh thần hợp tác, làm việc hiệu quả trong tổ chức, theo nhóm chuyên môn; có tư duy cởi mở với cái mới (đây là vấn đề quan trọng, nhằm khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, cục bộ... Tỉnh ta, có một tài liệu đã đúc kết: con người Xứ Thanh còn tồn tại những tâm lý bảo thủ, tự bằng lòng, tự cho mình là tốt, cục bộ, xem thường việc khép kín mình vào các thể chế chung của quốc gia. Trong thời gian tới, chúng ta cần tập trung nghiên cứu đầy đủ và khắc phục cho được những hạn chế về tâm lý của người Thanh Hoá thì mới thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, xây dựng tỉnh ta trở thành tỉnh tiên tiến);

Xây dựng con người Việt Nam không ngại đương đầu với thách thức; năng động, sáng tạo; nỗ lực tiếp cận và vận dụng những kiến thức tiên tiến nhất của khoa học, công nghệ thế giới phục vụ phát triển đất nước; rèn luyện thể lực, nâng cao thể trạng; tu dưỡng, bồi bổ cả kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và đạo làm người.

*Vận dụng vào thực tiễn, hiện nay, Tỉnh ta đang thực hiện xây dựng 5 đức tính cao quý của con người mới, con người Xứ Thanh, đó là:

- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu.

- Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.

- Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

- Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.

Trong 5 đức tính, phẩm chất nổi bật của con người Thanh Hóa cần được bồi đắp, phát huy, đó là: lòng yêu nước, yêu quê hương; tinh thần tự cường, tự tôn dân tộc, nỗ lực vượt qua khó khăn; tính cộng đồng, đoàn kết, trọng nghĩa tình; sự hiếu học, sức sáng tạo không ngừng.

*Vừa qua UBND tỉnh đã ban hành bộ tiêu chí kiểu mẫu, trong đó tiêu chí xây dựng công dân gương mẫu gồm:

- Một là, gương mẫu chấp hành tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các nội quy, quy định của cơ quan nơi công tác và địa phương nơi cư trú.

-  Hai là, yêu Tổ quốc, yêu quê hương, sống có lý tưởng cách mạng, có sức khỏe, năng động, sáng tạo, có tri thức và kỹ năng nghề nghiệp, không ngừng nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; có lòng nhân hậu, có tinh thần hợp tác quốc tế.

- Ba là, cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; có ý thức tập thể, có tinh thần tự nguyện vì lợi ích chung, có ý chí vươn lên trong học tập, công tác, sản xuất, kinh doanh và làm giàu chính đáng.

- Bốn là, có lối sống văn hóa lành mạnh, nếp sống văn minh, trung thực, nhân nghĩa, đoàn kết, sản xuất, kinh doanh giỏi. Đạt các danh hiệu xuất sắc của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp.

Xây dựng con người là một quá trình lâu dài, khó khăn và phức tạp; vì vậy, cần phải tập trung các hoạt động văn hoá để giáo dục, xây dựng con người với nhiều hình thức, phương pháp khác nhau, tạo điều cho con người phát triển toàn diện, cống hiến nhiều hơn cho sự phát triển quê hương, đất nước).

- Trước hết, cần tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc.

- Hướng các hoạt động văn hóa, giáo dục, khoa học vào việc xây dựng con người có thế giới quan khoa học, hướng tới chân - thiện - mỹ. Gắn xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. (Nghị quyết Trung ương 8 khoá XI về giáo dục và đào tạo đã khẳng định: Đổi mới chương trình giáo dục nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân của học sinh)

- Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, của kinh tế tri thức và xã hội học tập.

- Đúc kết và xây dựng hệ giá trị chuẩn của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. (Trung ương đã giao cho các cơ quan chức năng tiến hành đúc kết giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam).

- Xây dựng và phát huy lối sống "Mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người"; hình thành lối sống có ý thức tự trọng, tự chủ, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ môi trường; kết hợp hài hòa tính tích cực cá nhân và tính tích cực xã hội; đề cao trách nhiệm cá nhân đối với bản thân, gia đình và xã hội.

- Tăng cường giáo dục nghệ thuật, nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho nhân dân, đặc biệt là thanh niên, thiếu niên. Nâng cao thể lực, tầm vóc con người Việt Nam, gắn giáo dục thể chất với giáo dục tri thức, đạo đức, kỹ năng sống, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người.

3.2. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh

(Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc xây dựng con người phát triển toàn diện)

- Trước hết, phải xây dựng mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội.

- Thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người.

- Xây dựng mỗi trường học phải thực sự là một trung tâm văn hóa giáo dục, rèn luyện con người về lý tưởng, phẩm chất, nhân cách, lối sống; giáo dục truyền thống văn hóa cho thế hệ trẻ.

- Xây dựng đời sống văn hóa ở địa bàn dân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đoàn kết, dân chủ, văn minh, đạt chuẩn thực chất về văn hóa; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở; xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa".

- Gắn các hoạt động văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, với chương trình xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Từng bước thu hẹp khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền, giữa các giai tầng xã hội, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, vùng sâu, vùng xa.

- Phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng; khuyến khích các hoạt động tôn giáo gắn bó với dân tộc, hướng thiện, nhân đạo, nhân văn, tiến bộ, "tốt đời, đẹp đạo".

Tóm lại, để xây dựng đời sống văn hoá và môi trường văn hoá lành mạnh, cần phải tăng cường thực hiện quy chế dân chủ, khuyến khích và tạo điều kiện cho mọi người dân được tổ chức và tham gia sinh hoạt văn hoá cộng đồng; xây dựng xã hội học tập; thực hiện nghiêm pháp luật, phòng chống tham nhũng, ngăn chặn và trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội và những hành vi vi phạm pháp luật.

Gắn kết chặt hoạt động xây dựng đời sống văn hoá với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với từng khu vực, vùng miền, dân tộc, tôn giáo. Chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và ở vùng đồng bào theo đạo của tỉnh. Hướng các hoạt động văn hoá vào thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội, nâng cao dân trí, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; nâng cao mức hưởng thụ văn hoá cho nhân dân, nhất là vùng sâu, vùng dân tộc thiểu số, phấn đấu xây dựng tỉnh ta trở thành tỉnh tiên tiến;

Nâng cao chất lượng phong trào xây dựng gia đình, thôn, bản, khu phố văn hoá; đẩy mạnh việc thực hiện cuộc vận động xây dựng cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp… đạt tiêu chuẩn văn hoá, nếp sống văn minh. Tập trung thực hiện tốt Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, đưa Phong trào đi vào chiều sâu, có kết quả thiết thực, trở thành phong trào của toàn xã hội.

3.3. Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế

- Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể, coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước; nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống lành mạnh, gương mẫu thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; đổi  mới tác phong, lề lối, nâng cao chất lượng làm việc, gần dân, sát dân, tăng cường phục vụ nhân dân; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên.... Trong đó, kết quả thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị văn hoá là những nội dung quan trọng để xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước.

Trong thời gian qua, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo các cấp uỷ đảng tích cực triển khai thực hiện việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.  Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban và triển khai thực hiện hành Quyết định số 1089-QĐ/TU, ngày 19/8/2013 về Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; khẳng định mỗi cán bộ, đảng viên phải tích cực học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; ban hành Quyết định 1254-QĐ/TU, ngày 24/10/2013 Quy định về chế độ bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý; đã đạt được một số kết quả bước đầu: Một số sở, ban, ngành đã có những quy định khá cụ thể về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên gương mẫu trong sinh hoạt đảng, trong thực hành cần, kiệm, liêm, chính, yêu cầu gương mẫu của bản thân và gia đình. Một số địa phương, đơn vị, cơ quan, trách nhiệm nêu gương được quy định trong quy chế làm việc. Nhiều đồng chí bí thư cấp uỷ, đoàn thể, tổ chức hội, gương mẫu trong xây dựng mô hình và phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá; nêu gương làm theo tấm gương đạo đức và phong cách của Bác, dân chủ, gần dân, lắng nghe nhân dân...). Sự gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên cũng là yêu cầu quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng.

- Thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế. Tạo lập môi trường văn hóa pháp lý, thị trường sản phẩm văn hóa minh bạch, tiến bộ, hiện đại để các doanh nghiệp tham gia xây dựng, phát triển văn hóa.

(Văn hoá trong kinh tế được thể hiện thông qua xây dựng nền kinh tế lành mạnh, công bằng; mọi hoạt động kinh tế phải vì sự phát triển của con người, tuân thủ các quy định của pháp luật. Trong đó cần chú trọng xây dựng đội ngũ doanh nhân có lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý thức tuân thủ pháp luật; có khát vọng vươn lên làm giàu cho mình, cho đất nước; có trách nhiệm với người lao động, với cộng đồng, xã hội và có đạo đức, văn hoá kinh doanh).

3.4. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa

- Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc.

(Công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hoá là nhiệm vụ then chốt của chiến lược phát triển văn hoá. Đến nay, toàn tỉnh đã quan tâm tu bổ, tôn tạo chống xuống cấp các di tích lịch sử văn hoá, như: quần thể di tích Lam Kinh, Thái Miếu Nhà Lê, đền Bà Triệu, di tích đền Đồng Cổ, đền Lê Hoàn... Tuy nhiên, hiện nay, một số di tích đang bị xuống cấp, giảm giá trị; việc khai thác giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh còn nhiều hạn chế. Trong thời gian tới, ngành Văn hoá - Thể thao và Du lịch tập trung điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hoá để đẩy mạnh phát triển kinh tế du lịch, tăng cường giáo dục truyền thống cho nhân dân).

- Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội.

- Phát triển đi đôi với giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; khắc phục tình trạng lạm dụng tiếng nước ngoài.

- Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ để có nhiều tác phẩm có giá trị.

(Văn học, nghệ thuật là lĩnh vực rất quan trọng, đặc biệt tinh tế của văn hóa, là nhu cầu thiết yếu, thể hiện khát vọng chân, thiện, mỹ của con người; là động lực to lớn, trực tiếp góp phần xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội và sự phát triển toàn diện của con người.

Nhiệm vụ trung tâm của văn học, nghệ thuật của tỉnh ta thời gian tới là phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân văn, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người. Đổi mới và nâng cao chất lượng toàn diện hoạt động văn học, nghệ thuật; giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống, tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ; đồng thời đấu tranh ngăn chặn, loại bỏ những tác phẩm văn hóa độc hại, những quan điểm sai trái trên mặt trận tư tưởng; phê phán những thói hư, tật xấu, tiêu cực đang cản trở sự phát triển. Xây dựng và phát triển văn học nghệ thuật Thanh Hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, rõ nét hương sắc xứ Thanh, xây dựng công dân kiểu mẫu.)

- Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu cầu phát triển, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên mạng Internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên.

3.5. Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa

- Phát triển công nghiệp văn hóa nhằm khai thác và phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

- Nâng cao ý thức thực thi các quy định pháp luật về quyền tác giả và các quyền liên quan trong toàn xã hội.

- Đổi mới và hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hoá và công nghiệp văn hoá.

(Thể chế văn hoá là hệ thống các quy định về quản lý, xây dựng và phát triển văn hoá, bao gồm: hệ thống tổ chức, bộ máy cán bộ trên lĩnh vực văn hoá; cơ chế hoạt động và phối hợp của các tổ chức văn hoá; hệ thống chính sách văn hoá; hệ thống các thiết chế văn hoá từ Trung ương đến cơ sở.

Hoàn thiện thể văn hoá cần tập trung hoàn chỉnh hệ thống các văn bản pháp luật và cơ chế, chính sách về văn hoá toàn diện, đồng bộ trên mọi lĩnh vực của đời sống văn hoá phù hợp với chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; điều chỉnh, bổ sung những chính sách đã ban hành cho phù hợp với thực tiễn; loại bỏ những cơ chế, chính sách không còn phù hợp, cản trở sự phát triển. Xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá, nhất là ở cơ sở (nhà văn hoá, trạm bưu điện văn hoá xã, thư viện, đài phát thanh, sân chơi, trung tâm văn hoá).... gắn với xây dựng nông thôn mới.)

- Củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý và cơ quan thực thi quyền tác giả từ Trung ương đến địa phương.

3.6. Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

- Chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc.

(Trong bối cảnh quan hệ quốc tế hiện nay, ngoại giao văn hoá giữ một vị trí quan trọng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Xu thế mở rộng và tăng cường giao lưu, hợp tác về văn hoá của nước ta với thế giới là tất yếu. Ngày nay, việc giao lưu, hợp tác văn hoá không chỉ thuần tuý vì mục đích phát triển văn hoá, mà thông qua đó, mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác (kinh tế, chính trị). Chú trọng phối hợp chặt chẽ giữa các hoạt động văn hoá với quảng bá du lịch và xúc tiến thương mại, hợp tác đầu tư.)

- Xây dựng cơ chế, chính sách phát triển văn hóa đối ngoại; hỗ trợ quảng bá nghệ thuật quốc gia và xuất khẩu các sản phẩm văn hóa ra nước ngoài.

4. Giải pháp:

4.1. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực văn hóa.

- Các cấp ủy, tổ chức đảng cần xác định xây dựng và phát triển vǎn hóa, con người Việt Nam là một nhiệm vụ quan trọng trong suốt thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức trong Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.

- Mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao vai trò gương mẫu, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

- Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng:

+ Bảo đảm để vǎn hóa, vǎn học - nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn;

+ Khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo. Phải coi trọng xây dựng vǎn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước, nội dung quan trọng là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

4.2. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa

- Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông.

- Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam.

- Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý, tổ chức và hoạt động của các đơn vị sự nghiệp văn hóa, các hội nghề nghiệp trong lĩnh vực văn hóa theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

- Chủ động đấu tranh phòng, chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực văn hóa. Ngăn chặn có hiệu quả tình trạng một bộ phận báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ hoạt động không đúng tôn chỉ, mục đích, sản phẩm lệch lạc, thị hiếu tầm thường.

4.3. Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác văn hóa

- Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở.

- Quan tâm xây dựng các trường văn hóa, nghệ thuật, tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng và quy mô đào tạo. Hình thành một số cơ sở đào tạo đại học, trên đại học trọng điểm, đạt chuẩn khu vực và quốc tế.

- Có chính sách phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh cán bộ trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật; trọng dụng người có tài, có đức. Điều chỉnh chế độ tiền lương, trợ cấp đối với những người hoạt động trong các bộ môn nghệ thuật đặc thù.

4.4. Tăng cường nguồn lực cho lĩnh vực văn hóa

- Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn đầu tư của Nhà nước, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và một số loại hình nghệ thuật truyền thống cần bảo tồn, phát huy.

- Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển văn hóa, xây dựng con người.

- Xây dựng một số công trình văn hóa trọng điểm. Các địa phương, các cơ quan, công sở, trường học, khu công nghiệp, doanh nghiệp, khu dân cư... có thiết chế văn hóa phù hợp (thư viện, nhà văn hóa, công trình thể thao...).

- Tăng cường đầu tư để đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để nâng cao khả năng dự báo và định hướng phát triển văn hóa, xây dựng con người.

5. Tổ chức thực hiện:

Trung ương yêu cầu:

- Các cấp ủy, tổ chức đảng tổ chức việc học tập và triển khai thực hiện Nghị quyết.

- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hệ thống pháp luật về văn hóa, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện.

- Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản dưới luật; chỉ đạo tổ chức tốt việc thi hành pháp luật; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và kịp thời điều chỉnh các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.

- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức quán triệt, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH UỶ THANH HÓA


ĐỀ CƯƠNG GIỚI THIỆU

NGHỊ QUYẾT SỐ 12-NQ/TU CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH ỦY

Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020

 

Thực hiện chương trình công tác toàn khóa XVII của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành Quyết định số 137-QĐ/TU, ngày 07/3/2011 về việc thành lập Ban chuẩn bị xây dựng Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong tình hình mới (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy là cơ quan thường trực) nghiên cứu đề án, tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết chuyên đề về lĩnh vực này.

Thời gian qua, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành các Nghị quyết chuyên đề:

+ Nghị quyết số 02-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2011 - 2015";

+ Nghị quyết số 04-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về "Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ và đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ đáp ứng yêu cầu Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020";

+ Nghị quyết số 06-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về 'Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng xã hội học tập";

+ Nghị quyết số 09-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi Thanh Hoá đến năm 2020".

Kỳ này, sau nhiều lần tổng kết thực tiễn, sau nhiều lần trưng cầu ý kiến của các cấp, các ngành, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết về "Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đáp ứng yêu cầu xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020".

A. KHÁI NIỆM LIÊN QUAN VÀ TÊN GỌI CỦA NGHỊ QUYẾT

I. Những khái niệm liên quan

* Giáo dục:[1]

- Là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra.

- Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy (nền giáo dục, ngành giáo dục).

* Chính trị:[2]

- Là những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành nhà nước.

- Là những hiểu biết về mục đích, đường lối và nhiệm vụ đấu tranh của các chính đảng cũng như đông đảo quần chúng.

- Là những hoạt động nhằm nâng cao giác ngộ chính trị cho quần chúng, tổ chức quần chúng thực hiện một đường lối, những nhiệm vụ chính trị nhất định.

* Tư tưởng:[3]

- Sự suy nghĩ hoặc ý nghĩ.

- Quan điểm và ý nghĩ chung của con người đối với hiện thực khách quan và đối với xã hội.

* Công tác tư tưởng:[4] Là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm xây dựng, xác lập, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, định hướng giá trị, tạo niềm tin và thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của mình

*. Khái niệm Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

Từ những khái niệm chung, có thể đưa ra nhận thức chung về Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng như sau:

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là hoạt động có mục đích của Đảng nhằm truyền bá, giáo dục sâu rộng về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt cương lĩnh, quan điểm, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giáo dục về tư tưởng - văn hóa, bản sắc, truyền thống văn hóa Việt Nam và những tinh hoa tư tưởng - văn hóa của nhân loại; truyền thống lịch sử cách mạng của Đảng, của quê hương, đất nước; giáo dục tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống; đấu tranh chống các tư tưởng sai trái, phản động, thù địch … Qua đó, tạo sự chuyển biến trong nhận thức chính trị của toàn Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, định hướng giá trị, tạo niềm tin, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

II. Về tên gọi của Nghị quyết

- Ban Thường vụ Tỉnh uỷ xác định việc đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng không phải bây giờ mới bắt đầu, mà thực tế đã được triển khai từ trước đây, tuy nhiên chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới, do đó cần phải tiếp tục đổi mới, đổi mới mạnh mẽ hơn nữa; nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị tư tưởng của Đảng bộ Thanh Hoá.

- Việc đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần được xác định rõ mục tiêu của nó ngay từ tiêu đề của nghị quyết là “xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020”. Đồng thời trách nhiệm tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị trị, tư tưởng không phải chỉ là công việc của các cơ quan làm công tác tuyên giáo, văn hoá - văn nghệ, các cơ quan báo, đài … mà là trách nhiệm của các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể, của cả hệ thống chính trị, nên làm tốt công tác này không chỉ “góp phần” mà lớn hơn, quan trọng hơn là trực tiếp “xây dựng Thanh Hóa thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020”.

- Việc đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong tình hình hiện nay phải đáp ứng các yêu cầu:

+ Đổi mới phải trên cơ sở nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong tình hình hiện nay.

Trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường gây tác động đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong khi chúng ta đang tiếp tục thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) có nhiều điểm mới phải nghiên cứu, giới thiệu, quán triệt; trình độ chính trị, văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhân dân cao hơn trước rất nhiều; trong khi việc kiểm điểm tự phê bình, phê bình của các tập thể, cá nhân về bản lĩnh chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống khó cụ thể, do đó công tác giáo dục chính trị, tư tưởng bên cạnh những thuận lợi cũng khó thực hiện hơn. Để tiếp tuc đổi mới cần phải nhận thức sâu sắc hơn nữa ý nghĩa, vai trò, vị trí quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

+ Đổi mới phải bám sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của cấp ủy, chính quyền, nắm bắt đúng tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân:

Mục tiêu chủ yếu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là để hoàn thành nhiệm vụ chính trị. Muốn thực hiện được mục tiêu ấy, các cấp ủy cần xác định rõ nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng đối với từng tập thể, cá nhân trong tổ chức, xác định rõ tính chính trị, tính tư tưởng trong từng nhiệm vụ. Đồng thời cấp ủy phát động phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị trong địa phương, cơ quan, đơn vị. Kết quả lao động, chất lượng sản phẩm, mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị là tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của cấp ủy, tổ chức đảng.

+ Đổi mới phải triển khai đồng bộ, bài bản, chất lượng, hiệu quả cao với nhiều hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng phù hợp:

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần có sự phối hợp, chỉ đạo thực hiện đồng bộ các biện pháp giáo dục chính trị, tư tưởng bằng nhiều hình thức, phương pháp cả trực tiếp, gián tiếp; cả nơi làm việc, học tập và nơi cư trú; từ sinh hoạt thường kỳ của chi bộ, tổ chức đảng đến sinh hoạt chuyên môn của cơ quan, đơn vị và phong trào của các đoàn thể chính trị - xã hội.

+ Đổi mới phải trên cơ sở bảo đảm các điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ, đặc biệt là công tác xây dựng ngành tuyên giáo .

Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác Tuyên giáo, không chỉ là những người trực tiếp làm ở ngành Tuyên giáo mà nói rộng ra là cả những người làm công tác báo chí, phát thanh, truyền hình, văn hóa, văn học - nghệ thuật, giáo dục, khoa học là vấn đề rất quan trọng.

Có cơ chế, chính sách chăm lo điều kiện làm việc cho cán bộ chuyên trách làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

+ Phải nâng cao vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, trước hết là người đứng đầu, đồng chí bí thư cấp ủy, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải là người trực tiếp làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là công tác của toàn Đảng, do đó, bí thư cấp ủy phải trực tiếp nắm, trực tiếp chỉ đạo. Phải có sự phối hợp, thực hiện đồng bộ giữa các ngành, các cấp; có quy chế để nâng cao vai trò, trách nhiệm lãnh đạo của người đứng đầu nhằm nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

III. Sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết

1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng luôn là một hoạt động quan trọng, nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Sinh mệnh của Đảng cũng như sự thành bại của cách mạng có quan hệ trực tiếp với hoạt động chính trị, tư tưởng của Đảng, bởi vì xét về bản chất, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của Đảng là toàn bộ hoạt động trên lĩnh vực ý thức của con người nhằm biến tư tưởng cách mạng, tiến bộ và nhân văn thành lực lượng vật chất để cải tạo xã hội, xây dựng chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác; vì tư tưởng thông suốt thì làm tốt, tư tưởng nhùng nhằng thì không làm được việc”.

2. Thực tiễn hơn 80 năm qua cho thấy công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong các thời kỳ cách mạng.

Từ trước khi ra đời đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập ngày vào 03/2/1930 và Đảng bộ tỉnh được thành lập ngày 29/7/1930; qua mười lăm năm vận động cách mạng (1930-1945) để đi tới cuộc cách mạng Tháng Tám vĩ đại với sự ra đời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và trong các cuộc đọ sức lịch sử với các thế lực xâm lược để chúng ta giành chiến thắng năm 1954, thống nhất đất nước năm 1975, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cùng với việc xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức Đảng, gắn bó máu thịt với quần chúng để giác ngộ, rèn luyện, động viên, tập hợp, tổ chức nhân dân đi theo mục tiêu cách mạng của Đảng, thực hiện được khát vọng ngàn đời của dân tộc là độc lập, tự do.

Đất nước thống nhất, cùng cả nước khắc phục hậu quả chiến tranh, bước vào công cuộc đổi mới, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của Đảng bộ tỉnh đã trực tiếp góp phần hình thành, xác định và phát triển đường lối đổi mới, tổng kết các sáng kiến, khơi dậy sức sáng tạo, củng cố niềm tin, lý tưởng của nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp, góp phần cùng đất nước vượt qua nhiều thử thách, lập nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử.

3- Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành các nghị quyết:

+ Nghị quyết số 01-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VII) "Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay"

+ Nghị quyết Trung ương 5 khoá 8 về văn hoá ban hành khi nước ta mới bước vào kinh tế thị trường giai đoạn đầu, chưa thấy hết mặt trái của cơ chế thị trường, có nhiều vấn đề phát sinh sau này mà Nghị quyết Trung ương 5 khoá 8 chưa đề cập.

+ Ngày 12/4/2015, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Chỉ thị số 15 về nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên trong tình hình mới.

+ Ngày 1/8/2007 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết số 16 (NQTW 5 khoá X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới;

+ Ngày 16/1/2012 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Nghị quyết số 12 (gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 4) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" đã xác định 4 nhóm giải pháp cơ bản để thực hiện thắng lợi nghị quyết, trong đó nhóm giải pháp thứ 4 về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng …

+ Ngày 09/6/2014, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 33-NQTW về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.

Vì vậy, chúng ta cần tích hợp, bổ sung và sắp xếp, hoàn thiện lại các chủ trương, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp cho phù hợp.

4. Cùng cả nước, chúng ta đang hội nhập quốc tế trên nhiều lĩnh vực với sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông, nhất là mạng internet…Nước ta, tỉnh ta đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu; quá trình đó liên quan mật thiết đến đổi mới tư duy, cách làm và huy động nguồn lực, do đó phải làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng…

5. Thực trạng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của Đảng bộ tỉnh còn những hạn chế, yếu kém và khuyết điểm, thể hiện rõ hơn cả là công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống nhiều khi còn hình thức, chưa đủ sức động viên, nâng cao ý chí cách mạng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; một số nơi có tình trạng những việc làm đúng, gương người tốt, việc tốt chưa được đề cao, bảo vệ; những sai sót, vi phạm chưa được xử lý nghiêm minh. Tình hình đó đang làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, hệ lụy trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ.

Vì những lý do trên, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII; Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVII; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI; Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã thống nhất ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 21/7/2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020.

B. NỘI DUNG NGHỊ QUYẾT CỦA BAN THƯỜNG VỤ TỈNH UỶ về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020.

Cấp ban hành Nghị quyết: Ban Thường vụ Tỉnh uỷ

Tên gọi của Nghị quyết: Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020.

Kết cấu của Nghị quyết: gồm 4 phần lớn:

I. TÌNH HÌNH TƯ TƯỞNG VÀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG

1. Tình hình tư tưởng

* Nghị quyết đánh giá mặt tích cực: Qua gần 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đại đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển tốt đẹp của quê hương, đất nước. Tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, học tập, công tác và xây dựng đời sống; thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các quy định của địa phương, đơn vị.

Ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân được thể hiện rõ nét, tích cực hơn; quan tâm hơn đến những sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của quê hương, đất nước. Tư tưởng tích cực là xu hướng chủ đạo, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của toàn Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh thực hiện các nhiệm vụ chính trị trong thời gian qua.

* Mặt tiêu cực của tình hình tư tưởng

Tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Tệ nạn xã hội, tình trạng sống đua đòi, ích kỷ, sính ngoại, hưởng thụ, sống vô cảm của không ít người trong giới trẻ và người dân diễn ra ở nhiều nơi.

Các thế lực thù địch với âm mưu “diễn biến hòa bình” dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hòng làm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Các phần tử cơ hội chính trị trong nước móc nối với các thế lực thù địch, phản động ở nước ngoài xuyên tạc, vu cáo, chống phá quyết liệt Đảng, Nhà nước ta trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng.

Tăng trưởng kinh tế hàng năm và phát triển văn hóa, xã hội chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của tỉnh…Tình hình trên đã phát sinh một số vấn đề tư tưởng, tâm trạng bức xúc đáng lo ngại, ảnh hưởng tới tính đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân; tiềm ẩn các nguy cơ trực tiếp gây mất ổn định chính trị.

Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 (NQTW9) về xây dựng và phát triển văn hoá, con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, đánh giá: Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng.

* Trong khi đó công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bên cạnh những kết quả đạt được, như:

- Đã tập trung tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyên truyền thực hiện chủ trương, đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

+ Các cấp ủy Đảng quan tâm tổ chức bồi dưỡng kiến thức mới về lý luận và thực tiễn cho cán bộ chủ chốt.

Trường Chính trị tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện, thị, thành phố là những đơn vị có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, bổ sung phát triển và vận dụng tích cực chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào giảng dạy, nghiên cứu lý luận.

+ Quan tâm chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; đẩy mạnh tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ chính trị trọng tâm của các địa phương, đơn vị; triển khai thường xuyên công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng; chăm lo cho hoạt động của các cơ quan báo chí, xuất bản;

(Báo chí, xuất bản tiếp tục phát triển về số lượng, loại hình, ấn phẩm, đội ngũ làm báo và số lượng người đọc. Báo Thanh Hoá đã ra 6 kỳ trong tuần, có Báo Thanh Hoá hằng tháng, chuyên đề Thanh Hóa miền núi và Báo Thanh Hoá điện tử. Đài PT và TH Thanh Hoá phát hình 19 h/ngày (tự sản xuất được 7 h, phát lên vệ tinh Vinasat từ 2009); phát thanh 14/ngày, tự sản xuất được 9 h)

+ Đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, góp phần nâng cao nhận thức chính trị, giác ngộ lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, giữ vững trận địa tư tưởng trong toàn Đảng bộ tỉnh

- Chăm lo cho các hoạt động văn hoá, văn nghệ, phục vụ nhiệm vụ chính trị: xây dựng đời sống văn hóa cơ sở;  bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử - văn hoá; quản lý, tổ chức các hoạt động lễ hội; Củng cố, phát huy tác dụng của các thiết chế văn hoá; chỉ đạo, định hướng các hoạt động văn học, nghệ thuật.

- Công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, công tác tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận có nhiều cố gắng:

Giáo dục, định hướng tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong học sinh, sinh viên

Giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, cán bộ các đoàn thể trong hệ thống chính trị.

Tổ chức nhiều hoạt động tổng kết thực tiễn - nghiên cứu lý luận.

-Công tác giáo dục truyền thống lịch sử được chăm lo.

- Công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng, lịch sử địa phương đã được triển khai thực hiện tích cực. Tính đến năm 2010 đã có 27/27 huyện, thị, thành phố xuất bản lịch sử Đảng bộ (trong đó có 20 đơn vị xuất bản đến năm 2005, 2006, 2007, 2010; trên 400 xã, phường, thị trấn, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện xuất bản Lịch sử Đảng bộ và lịch sử đơn vị).

Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo biên soạn nhiều công trình lịch sử, như: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa tập III (1975 – 2005); tái bản Lịch sử Đảng bộ tỉnh tập I (1930 – 1954), tập II (1954 – 1975); 50 năm nghĩa tình Thanh Hóa – Quảng Nam (1960 - 2010); Những chiến sỹ cách mạng trung kiên tỉnh Thanh Hóa; Thanh Hóa với cách mạng Lào và tỉnh Hủa Phăn (1930 – 2010); đã hoàn thành 3 tập Địa chí Thanh Hoá: Địa lý và Lịch sử, Văn hoá – Xã hội, Kinh tế; đang triển khai tập 4 Nhân vật chí. Tiếp tục hoàn thành sách “Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lãnh đạo phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo thời kỳ 1986 - 2010"... Đây thực sự là những công trình khoa học phục vụ đắc lực cho công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cách mạng, bổ sung cơ sở lịch sử quan trọng cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tiễn địa phương, đơn vị.

- Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả bước đầu.

Đã tổ chức hiệu quả các hoạt động: quán triệt học tập các chuyên đề theo từng năm; lấy ý kiến của Mặt trận Tổ quốc và cấp ủy nơi cư trú đối với cán bộ, đảng viên; thi kể chuyện về tấm gương đạo đức của Bác; đăng ký việc làm theo Bác; tổ chức gặp mặt, tọa đàm, biểu dương, tôn vinh những điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh ... đã tạo thành đợt sinh hoạt chính trị, làm cho tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người tiếp tục được thấm sâu vào đời sống xã hội, tác động đến nhận thức, hành động của các tập thể, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Từ những phong trào thi đua, đã xuất hiện nhiều tấm gương điển hình đóng góp tích cực vào việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của cấp ủy, chính quyền địa phương, như: công tác giải phóng mặt bằng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, cải cách hành chính...

-  Bộ máy tổ chức làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được quan tâm xây dựng ở cả 3 cấp: tỉnh, huyện (thị, thành, đảng ủy trực thuộc), xã. Các cấp ủy đảng quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, xây dựng quy chế hoạt động, được đầu tư các điều kiện làm việc và một số cơ chế thuận lợi cho hoạt động.

* Mặc dù đã đạt được những kết quả nêu trên, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng vẫn đổi mới chậm, chưa đáp ứng yêu cầu.

- Việc giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống chưa được tiến hành thường xuyên.

- Công tác quản lý đảng viên, tự phê bình và phê bình chưa được quan tâm đúng mức.

Khi đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đánh giá: Những kết luận về thiếu sót, khuyết điểm sau kiểm điểm Nghị quyết Trung ương 4 là sâu sắc và quan trọng, song nhận thức ở một số cấp uỷ, ngành, địa phương, đơn vị chưa thật đầy đủ và tổ chức chỉ đạo chưa thật sự quyết liệt, một số vấn đề đã được khắc phục nhưng chưa triệt để, một số vấn đề hiệu quả chưa cao.

+ Giữa suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống thì suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên là nghiêm trọng hơn. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã nhận thức đúng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; tuy nhiên, những biện pháp ngăn chặn vẫn còn hạn chế, hiệu quả thấp như: quản lý đảng viên, nhất là đảng viên có chức, có quyền, để một số cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý vi phạm pháp luật, công khai kê khai tài sản chưa thật bảo đảm, chuyển đổi vị trí công tác chưa được chú trọng, kiểm soát thu nhập và quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên còn bất cập, hạn chế.

+ Công tác cán bộ đã có nhiều tiến bộ theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch hơn, song việc nhận xét, đánh giá cán bộ trên một số trường hợp vẫn còn khó khăn; một số cán bộ diện các cấp uỷ quản lý được bổ nhiệm mới phát huy hiệu quả thấp...

+ Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đã có nhiều tiến bộ, nhất là trong sinh hoạt cấp uỷ, ban thường vụ các cấp uỷ. Tuy nhiên, có nơi, có lúc, có việc chưa tạo được sự  thống nhất cao.

- Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ; ở một số nơi còn hình thức; lúng túng trong việc "làm theo".

+ Tính tiền phong, gương mẫu của người cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chưa được khẳng định rõ nét để làm gương cho quần chúng, điều đó đã ảnh hưởng đến kết quả của việc học tập và làm theo Bác sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân.

+ Công tác tuyên truyền, tôn vinh những điển hình tiên tiến chưa được thực hiện thường xuyên. Một số đơn vị có biểu hiện ngại giới thiệu, tôn vinh điển hình.

Những hạn chế, yếu kém trên có nguyên nhân khách quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu:

- Một số cấp uỷ, chính quyền, người đứng đầu các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị chưa thực sự chú trọng đến công tác giáo dục chính trị, tư tưởng:

+ Chỉ đạo các công việc chưa sát sao, cụ thể; triển khai hình thức, chiếu lệ; đôi khi khoán trắng cho cơ quan tham mưu.

+ Chưa quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, tổ chức bộ máy làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đúng tầm, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ;

+ Các điều kiện hỗ trợ, cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ cho công tác giáo dục chính trị, tư tưởng chưa được quan tâm thỏa đáng.

- Việc xác định động cơ học tập chưa đúng đắn. Không ít cán bộ, đảng viên ngại học tập, nghiên cứu lý luận chính trị.

- Một số cấp uỷ chưa nắm chắc tình hình cơ sở; chưa giải quyết kịp thời các ý kiến phản ánh, kiến nghị của nhân dân.

- Sự phối kết hợp giữa các cấp, các ngành, giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát có lúc, có việc chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ.

- Năng lực của các cơ quan tham mưu về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có mặt còn hạn chế, còn thiếu các cán bộ giỏi, tâm huyết.

Để khắc phục tình hình trên, từng bước ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ yêu cầu cấp uỷ các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, với các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau:

II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU

1. Quan điểm

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng; có thái độ, phương pháp khoa học; kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu giáo dục chính trị, tư tưởng và sự tự nguyện, giữa lời nói và việc làm, giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm chính, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực gắn với giải quyết những vấn đề bức xúc, nổi cộm; tiến hành thường xuyên, kiên trì, đồng bộ, giữ đúng nguyên tắc của Đảng; cho nên việc đổi mới công tác này bảo đảm 4 quan điểm sau:

-  Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với phương châm “vừa xây, vừa chống”, lấy xây làm chính; phát huy truyền thống anh hùng và những phẩm chất tốt đẹp của quê hương và con người Xứ Thanh, tranh thủ thời cơ, vận hội mới, tạo sự đồng thuận, biến thành sức mạnh vật chất to lớn để xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020.

- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải bám sát và phục vụ trực tiếp nhiệm vụ chính trị của tỉnh, tập trung làm chuyển biến về nhận thức, đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, củng cố niềm tin, khơi dậy niềm tự hào, tinh thần hợp tác, tính năng động, sáng tạo, khát vọng, ý chí vươn lên để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ, trước  hết là của cấp uỷ, bí thư cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị; trong đó lấy chi bộ làm nền tảng, lấy công việc để làm tư tưởng, nhất là sự nêu gương bằng hành động thực tế của cấp trên. Đây cũng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng nòng cốt là đội ngũ chuyên trách làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, do đó phải thực hiện một cách đồng bộ, kiên trì, liên tục, phù hợp, sát thực với từng giai đoạn, từng địa phương, đơn vị, từng vùng, miền trong tỉnh; phù hợp với từng đối tượng, chú trọng bồi dưỡng tư tưởng, chính trị cho thế hệ trẻ.

2. Mục tiêu

- Thứ nhất là, công tác giáo dục chính trị tư tưởng phải góp phần vào việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp; củng cố, tăng cường sự thống nhất về tư tưởng chính trị trong Đảng, sự đồng thuận về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tranh thủ thời cơ, vận hội mới, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện toàn diện công cuộc đổi mới, nỗ lực phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao, gắn với tái cơ cấu nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững, quyết tâm xây dựng Thanh Hoá thành tỉnh tiên tiến vào năm 2020.

Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng gắn với thực tiễn, bám sát nhiệm vụ chính trị, góp phần củng cố tư tưởng, phát triển trình độ lý luận chính trị, tri thức trong Đảng bộ và hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong nhân dân; tiếp tục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; nâng cao năng lực vận dụng nghị quyết của Đảng vào cuộc sống cho cán bộ, đảng viên.

- Thứ hai là, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải góp phần tích cực thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, khắc phục một bước quan trọng tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, quản lý của chính quyền, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng

Thực hiện tốt phương châm “Toàn Đảng làm công tác tư tưởng”, “Lấy quần chúng giáo dục quần chúng”. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các phương tiện thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Cấp uỷ các cấp và toàn thể đảng viên, nhất là bí thư cấp uỷ, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng hàng đầu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Bí thư cấp uỷ phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, trực tiếp phụ trách và chịu trách nhiệm về kết quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng của địa phương, đơn vị. Định kỳ hàng tháng ở cấp tỉnh và các huyện, thị, thành phố tổ chức giao ban công tác tư tưởng - văn hoá.

Trong chương trình công tác hàng năm, cấp uỷ, chính quyền cần xác định các công việc cụ thể nhằm gắn kết chặt chẽ giữa công tác chính trị, tư tưởng với các công tác khác trong công tác xây dựng Đảng và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, xây dựng hệ thống chính trị. Lựa chọn một số vấn đề cấp thiết về công tác chính trị, tư tưởng để tập trung chỉ đạo thực hiện có kết quả.

Nêu cao tinh thần tự học, tự rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên phải nói đi đôi với làm, nói và làm theo nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Mở rộng dân chủ, có cơ chế phù hợp để quần chúng góp ý xây dựng cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường chất vấn, đối thoại trong sinh hoạt đảng, sinh hoạt chuyên môn ở các cấp. Đưa việc đối thoại giữa bí thư cấp uỷ, thủ trưởng cơ quan, đơn vị với cán bộ, đảng viên và quần chúng, trở thành việc làm thường xuyên, nền nếp. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện lợi dụng dân chủ để lôi kéo, kích động quần chúng tuyên truyền xuyên tạc, gây chia rẽ và làm mất ổn định địa phương, cơ quan, đơn vị.

Cấp uỷ các cấp chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân hướng mạnh việc tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng về cơ sở, nhất là địa bàn dân cư. Chú trọng nâng cao trách nhiệm công dân, ý thức cộng đồng để phát huy sức mạnh toàn dân. Triển khai thực hiện chương trình giáo dục chính trị, tư tưởng hằng năm cho đoàn viên, hội viên. Nắm bắt, phản ánh kịp thời với cấp uỷ, phối hợp với thủ trưởng cơ quan, đơn vị giải quyết các vấn đề tư tưởng phát sinh trong đoàn viên, hội viên. Giám sát cán bộ, đảng viên trong thực hiện các quy định nội bộ, quy chế dân chủ ở cơ sở. Đoàn Thanh niên tăng cường công tác quản lý, phối hợp giáo dục giữa nhà trường – gia đình và xã hội, tạo môi trường xã hội lành mạnh cho thanh, thiếu niên được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành.

Hàng năm, các cấp uỷ xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Việc kiểm tra, giám sát của cấp uỷ các cấp phải đi đôi với phát hiện những nhân tố mới, gắn với biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân làm tốt; đồng thời uốn nắn những biểu hiện không đúng trong các địa phương, cơ quan, đơn vị.

2. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; triển khai, quán triệt và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Tiếp tục đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng gắn với phổ biến, giáo dục pháp luật của Nhà nước sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân. Chủ động đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, bác bỏ các luận điệu phản động, làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch.

- Thực hiện nghiêm túc chế độ học tập lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên. Ở cấp tỉnh mỗi quý một lần, ở cấp huyện 6 tháng một lần tổ chức hội nghị bồi dưỡng lý luận, cập nhật kiến thức mới cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; khi cần thiết thông tin kịp thời những vấn đề mới về chủ trương, chính sách của Đảng cho cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nghỉ hưu theo phân cấp quản lý cán bộ.

- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học lý luận chính trị; nghiên cứu bổ sung các kiến thức về chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ, thông tin thị trường, tình huống và cách thức giải quyết tình huống, kỹ năng công tác và phong cách lãnh đạo, quản lý, kinh nghiệm thực tiễn trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Phát huy tính sáng tạo, tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện, gắn học với hành, tăng cường nghiên cứu thực tế của người học; đổi mới cách thi, kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng; lấy chất lượng làm thước đo đánh giá kết quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.

- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức công tác quán triệt, triển khai thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; phát huy mặt tích cực của phương pháp truyền thống là học tập trực tiếp tại hội nghị, tùy tình hình và tính chất của các văn kiện có thể kết hợp với truyền hình, truyền thanh trực tiếp; cung cấp đầy đủ, kịp thời các loại tài liệu phục vụ việc nghiên cứu, quán triệt nghị quyết.

- Ban thường vụ cấp uỷ, tập thể lãnh đạo các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị phải xây dựng chương trình hành động, thể chế hoá việc thực hiện nghị quyết bảo đảm sát, đúng, phù hợp với tình hình địa phương, đơn vị. Đối với một số nghị quyết quan trọng, có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội, cần có các hình thức lấy ý kiến tham gia đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân về các giải pháp thực hiện. Bí thư cấp uỷ chịu trách nhiệm chính trong công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện nghị quyết.

- Quan tâm tuyên truyền, giáo dục về truyền thống lịch sử, văn hoá và cách mạng của quê hương, đất nước, qua đó nâng cao niềm tự hào biến thành sức mạnh nội sinh trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tiếp tục nghiên cứu và nâng cao chất lượng biên soạn các công trình lịch sử Đảng, lịch sử truyền thống của các địa phương, đơn vị.

3. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải bám sát và phục vụ trực tiếp nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, tích cực góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ hằng năm và từng giai đoạn cách mạng của tỉnh.

- Các cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể cần quan tâm làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, nắm chắc diễn biến tư tưởng ở từng địa bàn, lĩnh vực, đối tượng, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bức xúc, nổi cộm trong đời sống xã hội, cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, tạo ra môi trường, nếp sống lành mạnh; lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu.

- Đối với những sự kiện lớn mang ý nghĩa chính trị, những nhiệm vụ trọng tâm của địa phương trong từng giai đoạn, những lĩnh vực quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, có tác động tới nhân dân, được dư luận xã hội quan tâm, cần chỉ đạo công tác tuyên truyền đi trước một bước với sự tham gia của cả hệ thống chính trị.

- Tăng cường công tác điều tra, nắm bắt dư luận xã hội, tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân về những chủ trương, chính sách chuẩn bị ban hành và đã ban hành; tạo cơ sở thực tiễn quan trọng, bảo đảm tính khoa học trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến người dân.

- Đề cao trách nhiệm của mỗi tổ chức đảng và đảng viên trong lãnh đạo bảo đảm hài hoà giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; chăm lo, tạo điều kiện ổn định và nâng cao đời sống nhân dân. Tập trung chỉ đạo giải quyết ngay từ cơ sở các mâu thuẫn, vướng mắc trong nội bộ nhân dân.

- Đẩy mạnh thực hiện chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức, viên chức tham nhũng, cửa quyền, thiếu tinh thần trách nhiệm, gây phiền hà, vi phạm kỷ luật trong thi hành công vụ, những đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo ban hành Quy chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo với cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp trong việc triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân.

4. Nâng cao chất lượng hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá - văn nghệ

- Đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền của các cơ quan truyền thông, báo chí, bản tin thông báo nội bộ của tỉnh, ngành, huyện bảo đảm kịp thời, đúng định hướng tư tưởng, có sức hấp dẫn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin và đến được với đông đảo nhân dân thuộc các vùng, miền, các dân tộc, các tôn giáo.

- Các cơ quan báo chí của tỉnh (5), văn phòng đại diện và phóng viên thường trú (24) các cơ quan báo ở Trung ương tại Thanh Hóa tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động để báo chí thật sự là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền trong tỉnh, đồng thời là diễn đàn của nhân dân, để nhân dân thông qua báo chí thực hiện quyền làm chủ của mình. Nâng cao tính chiến đấu, tính định hướng tích cực của các tác phẩm báo chí. Chú trọng biểu dương các điển hình tiên tiến, đồng thời, phê phán những quan điểm sai trái, lệch lạc, những việc làm sai quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, khắc phục những tiêu cực trong hoạt động báo chí.

- Thực hiện nghiêm túc Quy chế của Uỷ ban nhân dân tỉnh về "phát ngôn, họp báo và cung cấp thông tin cho báo chí". Nâng cao chất lượng công tác giao ban báo chí hàng tháng ở tỉnh. Thực hiện nghiêm túc và phát huy hiệu quả việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng trong các tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở.

- Tăng cường công tác lãnh đạo về tư tưởng, tổ chức đối với Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh. Quan tâm tạo điều kiện thuận lợi, động viên đội ngũ văn nghệ sỹ sáng tác nhiều tác phẩm xứng tầm với truyền thống anh hùng và thành quả to lớn của công cuộc đổi mới quê hương, đất nước. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho các cơ quan báo chí, văn học - nghệ thuật đáp ứng với yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

5. Kết hợp công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với công tác tổ chức cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát; gắn việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

- Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng phải tiến hành đồng bộ với tất cả các khâu trong công tác cán bộ ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt cấp uỷ, sinh hoạt chi bộ theo định kỳ; chú trọng các nội dung giáo dục, rèn luyện bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức lối sống; tích cực đấu tranh tự phê bình, phê bình và góp ý sửa chữa những biểu hiện lệch lạc, các vi phạm của đảng viên ngay từ khi mới phát sinh và ngay tại chi bộ. Cung cấp đầy đủ thông tin cho đảng viên trong sinh hoạt chi bộ. Tăng cường công tác phối hợp giữa chi bộ nơi công tác với chi bộ nơi cư trú để quản lý chặt chẽ đảng viên.

- Các cấp uỷ tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm túc việc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI và những khuyết điểm mới phát sinh. Triển khai đồng bộ các giải pháp trong kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Tất cả các tập thể, cán bộ, đảng viên, định kỳ 6 tháng và 01 năm đều tự giác lựa chọn, đăng ký nội dung làm theo tấm gương đạo đức của Bác. Tăng cường kiểm tra việc xây dựng và gương mẫu thực hiện chương trình, kế hoạch làm theo lời Bác của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp. Xây dựng, tuyên truyền và nhân rộng các điển hình tiên tiến có sức lan toả, thuyết phục cao trong đời sống nhân dân.

6. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, điều kiện làm việc phục vụ công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

- Kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng có bản lĩnh chính trị vững vàng, nói được, viết được, thuyết phục được, đảm bảo số lượng và chất lượng, hoạt động hiệu quả; tăng cường các điều kiện, phương tiện hoạt động theo hướng hiện đại để mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng.

Tập trung xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cộng tác viên dư luận xã hội bảo đảm giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có uy tín trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Có kế hoạch đào tạo một số cán bộ có trình độ chuyên môn sâu về công tác giáo dục chính trị tư tưởng.

- Chăm lo xây dựng đội ngũ giảng viên Trường Chính trị tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu thực tiễn. Tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng Trường Chính trị tỉnh trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh; phấn đấu cuối năm 2015 có 50%, cuối năm 2020 có 100% trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện đạt chuẩn theo Kết luận số 21-KL/TU (ngày 04/8/2008) và Kết luận số 15-KL/TU (ngày 03/11/2011) của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ.

(Hiện nay mới có TTBDCT các huyện Nông Cống, Thọ Xuân, Quảng Xương, Nga Sơn, Hoằng Hoá đạt chuẩn)…

- Các cấp uỷ, chính quyền quan tâm đầu tư xây dựng hệ thống đài truyền thanh của địa phương, đơn vị mình cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ. Tiếp tục tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp văn hoá cấp tỉnh, cấp huyện hoạt động tốt. Đẩy mạnh xã hội hoá công tác trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hoá theo đúng Luật Di sản văn hóa. Tăng cường đầu tư của Nhà nước trong xây dựng, tôn tạo các công trình lịch sử cách mạng, phát huy công năng gắn với các hoạt động giáo dục truyền thống cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.

(Đến nay trên địa bàn tỉnh hiện có 1.535 di tích lịch sử văn hoá, trong đó Thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới, di tích Lam Kinh xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt; hơn 700 di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, trong đó cấp quốc gia là 141 di tích, cấp tỉnh là 574 di tích, nhiều di sản văn hoá phi vật thể gắn liền với sự nghiệp dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc).

IV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các huyện, thị, thành uỷ, đảng ủy trực thuộc, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp tỉnh tổ chức triển khai quán triệt nghị quyết đến cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị.

2. Ban cán sự đảng Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh xây dựng  kế hoạch cụ thể thực hiện nghị quyết.

3. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo triển khai nghị quyết; phối hợp với Văn phòng Tỉnh uỷ và các cơ quan liên quan thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, theo dõi việc thực hiện nghị quyết và báo cáo kết quả với Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Nghị quyết này được tổ chức quán triệt đến các chi bộ Đảng và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân toàn tỉnh.

BAN TUYÊN GIÁO TỈNH UỶ THANH HÓA

 


[1] Theo Từ điển Tiếng Việt của Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê Chủ biên, xuất bản năm 2003.

[2] Theo Từ điển Tiếng Việt của Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê Chủ biên, xuất bản năm 2003.

[3] Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê Chủ biên, xuất bản năm 2003.

[4] Theo Thuật ngữ cơ bản Văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa.

 

 

Huân chương Lao động Hạng Nhất

Lịch công tác
Hộp thư điện tử

Bản đồ đến công ty