Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Liên kết

Quảng cáo

Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterTuần này63
mod_vvisit_counterTháng này63
mod_vvisit_counterTổng truy cập3935

Hiện có: 30 guests online

Tin tức hoạt động

Hướng dẫn tra cứu trực tuyến thông tin BHXH, BHYT

Theo 'Cổng thông tin điện tử BHXH Việt Nam'


Thực hiện quy trình nghiệp vụ, giao dịch điện tử, cấp sổ BHXH, thẻ BHYT theo Quyết định số 595/QĐ-BHXH ngày 14/4/2017 của BHXH Việt Nam. Để tra cứu thông tin mã số của các đối tượng tham gia BHXH bắt buộc và BHYT hộ gia đình, BHXH tỉnh Điện Biên hướng dẫn người tham gia BHXH, BHYT tra cứu thông tin sổ BHXH, thẻ BHYT mà cơ quan BHXH đang quản lý.

 

Để người tham gia BHXH, BHYT có thể truy cập tra cứu ở bất kì cổng, trang thông tin điện tử của BHXH Việt Nam cũng như BHXH các tỉnh, thành phố, BHXH tỉnh Điện Biên hướng dẫn tra cứu trực tuyến; để thực hiện tra cứu người sử dụng sử dụng máy tính phải được kết nối mạng internet và thực hiện theo các hướng dẫn sau:

Thứ nhất: hướng dn tra cu Mã số BHXH

Bước 1: Truy cập Cổng thông tin của Bảo hiểm xã hội Việt Nam tại địa chỉ: https://baohiemxahoi.gov.vn/Pages/default.aspx hoặc truy cập trang thông tin điện tử của Bảo hiểm xã hội tỉnh Điện Biên: http://bhxhdienbien.gov.vn/

  1. Dùng trình duyệt Internet: Coccoc, Chrome, Firefox, Internet Explorer….
  2. Click chuột vào banner Tra cứu trực tuyến

Cổng thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trang thông tin điện tử Bảo hiểm xã hội tỉnh Điện Biên

Bước 2: Sau khi Click chuột vào banner Tra cứu trực tuyến sẽ hiện thị ra link trang tra cứu mã số Bảo hiểm xã hội như sau:

Cổng tra cứu Mã số BHXH

  1. Chọn hoặc nhập mã tỉnh, thành phố đang đăng ký thường trú

Ví dụ: Mã tỉnh Điện Biên là 11

  1. Nhập thông tin Họ tên: Ví dụ Nguyễn Văn Thành
  2. Nhập thông tin ngày tháng năm sinh hoặc Năm sinh thì lựa chọn Ngày sinh là Năm sinh: ví dụ: 06/05/1976
  3. Nhập mã xác thực màu xanh bên phải
  4. Click Tra cứu

Lưu ý: Các trường thông tin 1,2,3,4 là các trường bắt buộc phải nhập, ngoài ra để tra cứu thông tin chính người người dùng có thể nhập các trường thông tin khác (nếu có) như: CMTND, Mã thẻ, Mã số BHXH….

Bước 3: Sau khi Click tra cứu sẽ hiện thị thông tin người cần tra cứu như hình sau:

Kết quả tra cứu mã số BHXH

  1. Di chuyển thanh kéo ngang để triểm tra thông tin đối tượng cần tra cứu

Có các trường thông tin như:

+ Mã số BHXH: Là mã do cơ quan BHXH cấp khi tham gia để người tham gia bổ sung vào mẫu MS1, Trường hợp không thấy thông tin người tham gia liên hệ cơ quan BHXH để được hướng dẫn.

+ Số sổ: Là số sổ của người tham gia BHXH

+ Mã thẻ: Là mã số của thẻ BHYT

+ Họ tên, giới tính, ngày sinh

+ Mã hộ: Là mã do cơ quan BHXH cấp

+ Địa chỉ: Là nơi đăng ký thường trú

+ Trạng thái: Chưa đồng bộ thì báo lại đơn vị BHXH kiểm tra lại.

+ Xem thông tin hộ: Tra cứu thông tin hộ gia đình

  1. Khi Click Xem thông tin hộ: sẽ hiện thị thông tin hộ gia đình của đối tượng đã tra cứu

Thứ hai, hướng dẫn tra cứu giá trị thẻ BHYT

Bước 1: Tại trang tra cứu trực tuyến click chọn tra cứu giá trị sử dụng thẻ BHYT.

Bước 2: Nhập các trường thông tin tra cứu: Mã thẻ, Họ tên, ngày sinh khi đã tra cứu ở link Mã số BHXH.

Bước 3. Click tra cứu sẽ hiện thị giá trị có giá trị sử dụng: ví dụ từ ngày 01/01/2017 đến 31/12/2017.

Cổng tra cứu giá trị thẻ BHXH

Thứ ba, tra cu quá trình tham gia BHXH

Bước 1: Tại trang tra cứu trực tuyến click chọn Tra cứu quá trình tham gia BHXH

Bước 2: Lựa chọn tỉnh thành, Cơ quan BHXH đang tham gia BHXH và lựa chọn trường từ tháng đến tháng tham gia

Nhập các trường thông tin như: CMTND, Họ tên, Số sổ BHXH, Mã xác thực.

Bước 3: Click tra cứu sẽ hiện tin thông tin người tham gia quá trình đóng BHXH.

Cổng tra cứu quá trình tham gia BHXH

Trong quá trình sử dụng, tra cứu nếu không truy cập được, người sử dụng liên hệ phòng Công nghệ thông tin BHXH tỉnh Điện Biên số điện thoại: 0215.3825693 hoặc email:  Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. để được hỗ trợ. Tổng đài hỗ trợ của BHXH Việt Nam: 1900636703 để được trợ giúp.

 

 

Công đoàn Công ty TNHH MTV Sông Chu: Tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

 

Thừa ủy quyền của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng chí Nguyễn Quốc Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua khen thưởng tỉnh trao Huân chương Lao động hạng Ba cho Công đoàn Công ty TNHH Một thành viên Sông Chu.

(THO) - Sáng 20-4, Ban chấp hành công đoàn Công ty TNHH Một thành viên Sông Chu tổ chức Đại hội công đoàn cơ sở công ty lần thứ XXI, nhiệm kỳ 2017-2022 và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba. Đồng chí Nguyễn Quốc Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua khen thưởng tỉnh, dự và trao Huân chương Lao động Hạng ba cho Công đoàn công ty.

Dự và chỉ đạo Đại hội có các đồng chí đại diện lãnh đạo Liên đoàn Lao động tỉnh, Đảng ủy Khối Doanh nghiệp, Công đoàn ngành NN&PTNT, Chi cục thủy lợi, đại diện lãnh đạo các Công ty TNHH MTV thủy lợi Bắc sông Mã, Nam sông Mã và Công ty CP cấp nước Thanh Hóa; Chủ tịch công đoàn của 67 đơn vị trong ngành về dự đại hội điểm của ngành NN&PTNT.

Trong nhiệm kỳ 2012-2017, trên cơ sở, kế hoạch sản xuất, tài chính hàng năm, Nghị quyết Đại hội công đoàn cơ sở, Nghị quyết hội nghị người lao động hàng năm, công đoàn Công ty TNHH MTV Sông Chu đã phối hợp chặt chẽ với chuyên môn đồng cấp xây dựng, phát động và tổ chức các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ quản lý, khai thác và bảo vệ các công trình thủy lợi... Nhờ đó, trong 5 năm (2012-2017), diện tích tưới tiêu tăng lên 983 ha; doanh thu thủy lợi phí tăng 1,5 tỷ đồng; doanh thu hoạt động kinh doanh ngoài công ích tăng 20,4 tỷ đồng; thuế và các khoản nộp ngân sách Nhà nước tăng 12,045 tỷ đồng; mức thu nhập bình quân của người lao động tăng 1.950.000 đồng/người/tháng. Với những kết quả đã đạt được trong 5 năm qua, công ty đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất; Thủ tướng Chính phủ tặng 3 Bằng khen cho 1 tập thể và 2 cá nhân; nhiều tập thể, cá nhân được tặng Bằng khen của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và của UBND tỉnh.

 



Toàn cảnh đại hội.

Nhiệm kỳ 2017-2022, công đoàn Công ty TNHH MTV Sông Chu sẽ tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động công đoàn các cấp theo hướng vì đoàn viên và người lao động; tiếp tục đổi mới và đẩy mạnh phong trào thi đua trong công nhân viên chức và người lao động; thực hiện tốt quy chế dân chủ, quy chế tổ chức hội nghị người lao động và quy chế đối thoại; duy trì, thực hiện tốt công tác bảo hiểm lao động; duy tu bảo dưỡng công trình; phấn đấu toàn công ty không có người vi phạm kỷ luật, nội quy, quy chế của công ty và pháp luật của Nhà nước, không  vi phạm tệ nạn xã hội....

Đại hội đã bầu BCH công đoàn khóa XXI, nhiệm kỳ 2017 - 2022 gồm 17 đồng chí,  bầu đoàn đại biểu đi dự đại hội Công đoàn ngành NN&PTNT Thanh Hóa lần thứ V, nhiệm kỳ 2017 - 2022 gồm 15 đồng chí.

Tại đại hội, thừa ủy quyền của Chủ tịch nước, đồng chí Nguyễn Quốc Tuấn, Tỉnh ủy viên, Phó Giám đốc Sở Nội vụ, Trưởng Ban Thi đua khen thưởng tỉnh đã trao Huân chương Lao động hạng Ba cho Công đoàn Công ty TNHH MTV Sông Chu.
Hương Thơm

 

 

Triển khai công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn 2016-2020

(THO)-Chiều 6-12, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai công tác sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) giai đoạn 2016-2020.

ảnh 1.jpg

Các đại biểu tham dự hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Thanh Hóa
Dự hội nghị tại điểm cầu Thanh Hóa có đồng chí Lê Thị Thìn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh lãnh đạo một số sở, ban, ngành liên quan.

Thực hiện Đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới DNNN trực thuộc đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, giai đoạn 2011-2015, các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đã sắp xếp được 591 doanh nghiệp (DN). Trong đó, cổ phần hóa 499 DN và bộ phận DN, sáp nhập, hợp nhất 48 DN... Với kết quả sắp xếp 5 năm qua đã nâng tổng số DNNN đã sắp xếp từ trước tới nay là 5.950 DN, trong đó cổ phần hóa là 4.460 DN. Nếu tính thêm số DNNN sắp xếp trong 10 tháng đầu năm 2016 là 60 DN, trong đó cổ phần hóa là 48 DN thì đến nay tổng số DNNN sắp xếp lại là 6.010 DN, trong đó cổ phần hóa 4.508 DN.

Công tác cổ phần hóa DN đã góp phần hoàn thiện và phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường chứng khoán, tạo điều kiện cho DN sau khi cổ phần hóa huy động vốn, đổi mới phương thức quản lý, công nghệ, gắn kết người lao động, ổn định và phát triển trong xu thế hội nhập với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới.

Về mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020, Chính phủ xác định, DN mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn và cổ phần chi phối chỉ duy trì trong những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; địa bàn quan trọng và quốc phòng- an ninh; ứng dụng công nghệ cao, đầu tư lớn, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội mà DN thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư. Các DN này cần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh; kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và năng lực quản trị theo chuẩn mực quốc tế; được trao quyền chủ động hơn gắn với tăng cường trách nhiệm; được quản lý, giám sát chặt chẽ; công khai, minh bạch về hoạt động sản xuất, kinh doanh; bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Tại hội nghị, các Bộ, ngành, địa phương, DN đã báo cáo kết quả và những vướng mắc, khó khăn trong thực hiện tái cơ cấu DNNN như nhiều DN thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa hiện nay có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng, tài chính phức tạp, để thành công cần có sự tham gia của các nhà đầu tư lớn và có tiềm lực tài chính. 

Thanh Hóa là một trong những địa phương đi đầu của cả nước thực hiện khá tốt công tác về cổ phần hóa, bán phần vốn nhà nước các DN. Giai đoạn 2001-2015, toàn tỉnh đã thực hiện cổ phần hóa 77 DN; bán phần vốn nhà nước 2 DN; chuyển đổi mô hình từ công ty TNHH MTV thành công ty TNHH 2TV 2 DN. Sau khi chuyển đổi hầu hết các DN đều đã nhanh chóng tổ chức sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, tăng thu nhập ổn định cho người lao động. Về mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2016-2020, Thanh Hóa tiếp tục thực hiện sắp xếp chuyển đổi 3 công ty TNHH MTV 100% vốn Nhà nước thành công ty 2 TV; thực hiện thoái vốn Nhà nước đối với 4 DN,…

Thanh Hóa cũng kiến nghị với Chính phủ cho phép sử dụng nguồn vốn từ quỹ hỗ trợ sắp xếp và phát triển DN để đầu tư một số dự án quan trọng theo chỉ đạo của UBND tỉnh.

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc biểu dương kết quả đạt được của các bộ, địa phương, DN trong việc thực hiện sắp xếp, đổi mới, tái cơ cấu DNNN thời gian qua. Để DNNN hoạt động hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành liên quan, các địa phương cần tạo môi trường kinh doanh minh bạch, có sự giám sát chặt chẽ, có tính cạnh tranh cao cả đầu vào và đầu ra, tạo động lực thúc đẩy các DN hoạt động hiệu quả; tiến hành cổ phần hóa, quy mô khu vực kinh tế nhà nước nhỏ đi nhưng hiệu quả hoạt động của DNNN phải cao hơn, vốn nhà nước phải được bảo toàn và phát huy giá trị tốt hơn… Trong giai đoạn 2016-2020, cần phải thực hiện các nhóm nhiệm vụ cơ bản như: Xác định rõ lĩnh vực nào nhà nước cần nắm giữ, lĩnh vực nào cần rút vốn theo tỷ lệ đặc biệt; lành mạnh hóa hoạt động DN, xóa bỏ mọi rào cản trong quá trình cổ phần hóa…

Sau kết luận của Thủ tướng Chính phủ, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Thị Thìn yêu cầu các DN thuộc diện cổ phần hóa thực hiện nghiêm các bước theo quy định, đẩy nhanh quá trình sắp xếp, đổi mới DN; các các sở, ban, ngành liên quan tham mưu cho UBND tỉnh các giải pháp để thực hiện hiệu quả công tác sắp xếp, đổi mới DN, tạo động lực cho DN phát triển bền vững hơn trong thời gian tới.
(Nguồn: Báo Thanh Hóa điện tử)
 

Báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội năm 2016, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017

(THO) - Báo Thanh Hóa trân trọng giới thiệu Báo cáo tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội năm 2016, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2017 do đồng chí Nguyễn Đức Quyền, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, trình bày tại kỳ họp thứ hai, HĐND tỉnh khoá XVII.

ảnh 1.jpg
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2016

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC
1. Tăng trưởng kinh tế vượt kế hoạch đề ra, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng
Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước đạt 9,05%, vượt kế hoạch (KH là 9%); tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 16,6% (giảm 1,3%); công nghiệp - xây dựng chiếm 40,6% (tăng 1,4%); dịch vụ chiếm 38,5% (tương đương cùng kỳ), thuế sản phẩm chiếm 4,3% (giảm 0,1%). GRDP bình quân đầu người ước đạt 1.620 USD, đạt 99,4%.
1.1. Về sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới: tái cơ cấu ngành nông nghiệp tiếp tục được tập trung chỉ đạo và đạt một số kết quả quan trọng; đã chuyển đổi 6.248 ha cây trồng kém hiệu quả sang trồng các cây khác có hiệu quả và giá trị kinh tế cao hơn; thực hiện 42 mô hình liên kết sản xuất với diện tích 11.850 ha. Giá trị sản xuất toàn ngành ước đạt 25.968 tỷ đồng, tăng 3,1% so với cùng kỳ; tổng sản lượng lương thực ước đạt 1,72 triệu tấn, vượt 3,3% kế hoạch; thanh tra, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp và vệ sinh an toàn thực phẩm tại 960 đơn vị, phát hiện và xử lý 151 đơn vị vi phạm; chăn nuôi tiếp tục phát triển theo hướng trang trại, gia trại; đàn gia súc, gia cầm, sản lượng thịt hơi, trứng, sữa tươi đều tăng so với cùng kỳ. Trồng mới 10.500 ha rừng tập trung, vượt 5% kế hoạch; tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 52,92%, vượt kế hoạch; giá trị sản xuất thủy sản ước đạt 4.686 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả quan trọng, trong năm đã công nhận 1 huyện, 45 xã, 248 thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới, nâng số xã đạt chuẩn nông thôn mới toàn tỉnh lên 158 xã, đạt 27,6%, vượt kế hoạch (26,2%).
1.2. Về sản xuất công nghiệp: giá trị sản xuất công nghiệp ước đạt 63.589 tỷ đồng, vượt 1,7% kế hoạch, tăng 9,9% so với cùng kỳ; hầu hết sản lượng công nghiệp chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ; một số sản phẩm tăng khá như: clinker, quần áo, ô tô tải, điện sản xuất, giày thể thao. Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển; giá trị sản xuất ước đạt 14.443 tỷ đồng, đóng góp 22,7% giá trị sản xuất công nghiệp.
1.3. Về dịch vụ và thương mại: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 71.484 tỷ đồng, vượt 3,6% kế hoạch, tăng 16% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 1,737 tỷ USD, vượt 7,2% kế hoạch, tăng 12,1%; giá cả hàng hóa, dịch vụ cơ bản ổn định; chỉ số giá tiêu dùng ước tăng dưới 3%.
Hoạt động du lịch diễn ra sôi động; hạ tầng du lịch tiếp tục được đầu tư, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng lên; ngành du lịch ước đón 6,3 triệu lượt khách, vượt 12,5% kế hoạch, tăng 13,9% so với cùng kỳ; doanh thu ước đạt 6.280 tỷ đồng, tăng 21,2%.
Vận tải ước đạt 47,8 triệu tấn hàng hóa và 37,3 triệu lượt khách, so với cùng kỳ tăng 7,5% về hàng hóa và 20,2% về lượt khách; vận tải hàng không phát triển nhanh; ước khoảng 800 nghìn lượt khách qua Cảng hàng không Thọ Xuân, gấp 1,6 lần năm 2015; đã mở mới đường bay Thanh Hóa - Nha Trang.
Huy động vốn của các tổ chức tín dụng ước đạt 61.750 tỷ đồng, tăng 20,6% so với đầu năm; tổng dư nợ ước đạt 73.150 tỷ đồng, tăng 19%.
1.4. Thu NSNN ước đạt 12.300 tỷ đồng, vượt 10,8% dự toán, trong đó: thu nội địa đã trừ tiền sử dụng đất đạt 8.700 tỷ đồng, vượt 18% dự toán, tăng 12% so với cùng kỳ. Chi ngân sách đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực.
1.5. Trong năm, đã thành lập mới 1.400 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 8.315 tỷ đồng, so với cùng kỳ, tăng 13,5% về số doanh nghiệp và 26,9% về vốn đăng ký; doanh thu của doanh nghiệp ước đạt 162.168 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ; nộp ngân sách 4.765 tỷ đồng, tăng 1,5%.
2. Hoạt động kinh tế đối ngoại, xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh; kết quả thu hút các dự án đầu tư tăng cao so với cùng kỳ
Tính đến 30-11, đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 199 dự án (11 dự án FDI) với tổng vốn đầu tư đăng ký 27.745 tỷ đồng và 155 triệu USD, so với cùng kỳ tăng 84 dự án và gấp 2,2 lần vốn đăng ký.
Huy động vốn đầu tư phát triển ước đạt 125.100 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch và tăng 11% so với cùng kỳ; nhiều dự án lớn, quan trọng đã hoàn thành đưa vào sử dụng và khởi công một số dự án quan trọng khác. Giá trị khối lượng thực hiện các dự án đầu tư từ NSNN, Trái phiếu Chính phủ ước đạt 4.570 tỷ đồng, bằng 80% kế hoạch; giá trị giải ngân ước đạt 4.935 tỷ đồng, bằng 95% kế hoạch.
3. Lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ; các chính sách an sinh xã hội, giải quyết việc làm được thực hiện đầy đủ, kịp thời
3.1. Hoạt động khoa học và công nghệ được đẩy mạnh; trong năm, đã nghiệm thu 40 nhiệm vụ khoa học công nghệ; cấp giấy chứng nhận cho 4 doanh nghiệp khoa học công nghệ.
3.2. Hoạt động văn hóa, thông tin tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn của đất nước và của tỉnh; trọng tâm là tuyên truyền về Đại hội XII của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021; trong năm, có 5 phường, thị trấn, 56 xã, 87 làng, bản, tổ dân phố, 161 cơ quan, đơn vị đăng ký xây dựng đạt tiêu chuẩn về văn hóa. Đã tổ chức trên 650 giải thể thao cấp tỉnh, huyện, xã; tổ chức thành công Hội khỏe Phù Đổng khu vực III và Hội khỏe Phù Đổng toàn quốc lần thứ IX; thể thao thành tích cao đoạt 662 huy chương (226 HCV) tại các giải quốc gia và quốc tế.
3.3. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên; giáo dục mũi nhọn đạt kết quả tốt; tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT năm 2016 đạt 96,89% (tăng 5% so với năm học trước); tại các kỳ thi Olympic quốc tế, học sinh tỉnh ta đạt 1 HCV Hóa học, 1 HCB Toán học, 1 HCĐ Sinh học; kỳ thi học sinh giỏi quốc gia khối THPT, học sinh tỉnh ta đạt 58 giải (6 giải nhất), xếp thứ 4 toàn quốc. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 56,2%, vượt kế hoạch (KH là 55,3%).
3.4. Ngành y tế đã chỉ đạo các cơ sở y tế nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; trong năm, đã chuyển giao 271 kỹ thuật cho bệnh viện tuyến huyện; có thêm 94 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế, nâng tỷ lệ chung cả tỉnh lên 60%, vượt kế hoạch (KH là 55%); đã kiểm tra 12.018 cơ sở sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm, phát hiện và xử lý 2.714 cơ sở vi phạm.
3.5. Năm 2016, đã giải quyết việc làm mới cho 64.000 người, trong đó xuất khẩu 10.000 lao động; giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp cho hơn 19.000 lao động; tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,5% so với đầu năm, xuống còn 11%; đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho hơn 149 nghìn đối tượng chính sách và gần 44 nghìn người cao tuổi; hỗ trợ 2.136 tấn gạo cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn.
4. Tình hình chính trị ổn định; quốc phòng - an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Các lực lượng vũ trang đã thường xuyên theo dõi, nắm chắc tình hình cơ sở, chủ động xử lý các tình huống, không để bị động bất ngờ; bảo vệ an toàn tuyệt đối cho việc tổ chức các sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh; hoàn thành kế hoạch tuyển quân với 4.300 quân nhân nhập ngũ.
Lực lượng công an đã triệt xóa nhiều băng, ổ nhóm tội phạm nguy hiểm; điều tra làm rõ 1.551 vụ với 2.329 đối tượng vi phạm trật tự xã hội, chuyển khởi tố điều tra 1.082 vụ với 2.126 bị can; phát hiện, xử lý 435 vụ với 680 đối tượng phạm tội về ma túy, 267 vụ với 313 đối tượng phạm tội về kinh tế, chức vụ; công tác phòng chống cháy nổ được quan tâm, không để xảy ra các vụ cháy lớn.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Những hạn chế, yếu kém kéo dài trong nhiều năm, nhưng chậm được khắc phục, giải quyết
- Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm so với yêu cầu; thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; còn xảy ra vi phạm trong quản lý chất lượng vật tư nông nghiệp, vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Tiến độ thực hiện của nhiều dự án công nghiệp chậm so với kế hoạch, nhất là các dự án sản xuất điện, thép; một số nhà máy sản xuất gặp khó khăn về thị trường, nguyên liệu đầu vào nhưng chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục.
- Công tác vận động, xúc tiến đầu tư hiệu quả chưa cao; nhiều dự án được ký cam kết, thỏa thuận đầu tư nhưng chưa được thực hiện; giải quyết một số vụ việc liên quan đến thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước ở một số đơn vị chưa kịp thời, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của tỉnh. Công tác GPMB nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu; nhiều dự án đầu tư trực tiếp, dự án đấu thầu sử dụng đất thực hiện chậm, song chưa có giải pháp mạnh để đôn đốc hoặc thu hồi, chấm dứt thực hiện; giải ngân các dự án đầu tư trực tiếp trong nước đạt thấp so với vốn đăng ký.
- Một số chương trình, dự án giải ngân chậm; nợ đọng xây dựng cơ bản ở cấp huyện, cấp xã còn cao và có chiều hướng gia tăng; nhiều dự án hoàn thành quyết toán chậm so với quy định.
- Vi phạm các quy định về quản lý tài nguyên còn xảy ra, đặc biệt là khai thác cát trái phép; ô nhiễm môi trường chậm được xử lý; còn xảy ra một số vụ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
- Cơ sở vật chất, thiết bị trường học nhìn chung chưa đảm bảo yêu cầu; bệnh viện công vẫn trong tình trạng quá tải; doanh nghiệp nợ BHXH còn cao; ý thức chấp hành pháp luật của lao động làm việc ở nước ngoài còn thấp; tai nạn lao động nghiêm trọng tăng cao. Truyền đạo trái phép, di cư tự do, tội phạm ma túy diễn biến phức tạp; người dân xuất cảnh trái phép ra nước ngoài làm thuê còn diễn ra.
2. Những hạn chế, yếu kém mới phát sinh năm 2016
- Diện tích sản xuất vụ đông chưa đạt kế hoạch; năng suất, sản lượng mía nguyên liệu giảm so với cùng kỳ; vi phạm trong khai thác thủy sản, tai nạn tàu cá trên biển, cháy rừng còn xảy ra. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế và thu ngân sách không đạt kế hoạch.
- Thu nợ đọng thuế, tiền sử dụng hiệu quả còn thấp, số nợ còn cao; thu thuế xuất nhập khẩu đạt thấp so với kế hoạch; tiến độ giải ngân của một số nguồn vốn, chương trình dự án đầu tư công đạt thấp; số dư tạm ứng còn cao (1.627 tỷ đồng); tiến độ thực hiện của nhiều dự án, gói thầu còn chậm so với hợp đồng.
- Quản lý, sử dụng kinh phí khám chữa bệnh để bội chi quỹ bảo hiểm y tế; xảy ra 9 vụ đình công, nghỉ việc tập thể tại các doanh nghiệp.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do công tác chỉ đạo, điều hành của một số ngành, địa phương chưa sâu sát, cụ thể, thiếu quyết liệt; chưa xác định đúng trọng tâm, trọng điểm, những việc bức xúc, nổi cộm để tập trung chỉ đạo giải quyết; năng lực, ý thức, tinh thần trách nhiệm, đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ, công chức còn yếu; trách nhiệm của người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa cao; việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm; việc thực hiện chế độ thông tin, báo cáo của một số ngành, địa phương, đơn vị chưa nghiêm túc, kịp thời.
Phần thứ hai
KIỂM ĐIỂM CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO, ĐIỀU HÀNH NĂM 2016

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, định hướng của Chính phủ, Tỉnh ủy và HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động với các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm “Hoàn thiện thể chế - tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính - tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư phát triển”; đồng thời, ban hành chương trình công tác và giao nhiệm vụ cụ thể cho các ngành, các cấp tổ chức thực hiện.
Năm 2016, UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã xây dựng và báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, trình Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành 5 chương trình trọng tâm và 2 nghị quyết chuyên đề về công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường. UBND tỉnh ban hành các kế hoạch để thực hiện; chỉ đạo rà soát, hoàn chỉnh hệ thống cơ chế, chính sách để thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020; đề nghị HĐND tỉnh ban hành quy định xét tặng danh hiệu “Vì sự phát triển tỉnh Thanh Hóa”; chỉ đạo tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2015 và sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết số 09-NQ/TU của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi đến năm 2020.
UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo quán triệt, hướng dẫn và triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành; vận dụng linh hoạt, sáng tạo các chủ trương, chính sách của Trung ương vào điều kiện của tỉnh để phát triển kinh tế - xã hội.
2. UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo, điều hành quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm và tổ chức thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trên các lĩnh vực; cụ thể là:
2.1. Lĩnh vực nông nghiệp: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo đẩy mạnh tái cơ cấu ngành nông nghiệp; thực hiện các biện pháp kỹ thuật thâm canh cây trồng và phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm; phòng chống hạn, nhiễm mặn, cháy rừng; tăng cường quản lý khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đăng ký, đăng kiểm tàu cá; đẩy mạnh xây dựng huyện, xã nông thôn mới; thực hiện tốt các cơ chế, chính sách khuyến khích tái cơ cấu ngành nông nghiệp và chính sách phát triển nông, lâm, thủy sản.
2.2. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn về vốn, cấp điện, cấp nước, mặt bằng, nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ, tạo thuận lợi cho phát triển sản xuất và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án công nghiệp, nhất là các dự án lớn, trọng điểm đang triển khai thực hiện; chỉ đạo thu hút các dự án lớn, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
2.3. Lĩnh vực đầu tư xây dựng: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã tăng cường chỉ đạo công tác quản lý Nhà nước về đầu tư công; rà soát chủ trương đầu tư các dự án đầu tư công cho bảo đảm khả năng cân đối nguồn vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư công; xây dựng kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn 5 năm 2016 - 2020; chỉ đạo xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản; điều chuyển vốn của các dự án không có khả năng giải ngân hết kế hoạch; ban hành quy định về phân cấp, ủy quyền trong hoạt động quản lý đầu tư các dự án sử dụng vốn Nhà nước và phân cấp thẩm định dự án, thiết kế cơ sở và thiết kế, dự toán các dự án trên địa bàn tỉnh.
2.4. Lĩnh vực dịch vụ: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo tăng cường quản lý thị trường, chống buôn lậu, gian lận thương mại, bán hàng đa cấp; đẩy mạnh xúc tiến thương mại, du lịch; phát triển thương mại gắn với cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; tăng cường quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; chấn chỉnh hoạt động thu phí và nâng cao hiệu quả quản lý, kinh doanh chợ; tăng cường quản lý siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng kinh doanh xăng dầu; chỉ đạo tổ chức thành công các hội chợ thương mại trên địa bàn.
2.5. Lĩnh vực tài chính, ngân sách: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo sớm phân bổ dự toán cho các đơn vị ngay từ những ngày đầu năm; thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh đôn đốc thu NSNN; khai thác các nguồn thu cho ngân sách; điều hành chi ngân sách tiết kiệm, hiệu quả; chấn chỉnh tình trạng thu phí, lệ phí trái quy định; tăng cường quản lý Nhà nước về giá; đề xuất mức thu, quản lý và sử dụng các loại phí, lệ phí thuộc thẩm quyền của HĐND tỉnh.
2.6. Lĩnh vực tài nguyên: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo tăng cường quản lý Nhà nước về đất đai, khoáng sản và các dự án đầu tư xử lý chất thải rắn sinh hoạt; chấn chỉnh các hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, đóng cửa các mỏ khoáng sản khai thác không hiệu quả, gây ô nhiễm môi trường.
2.7. Lĩnh vực văn hóa - xã hội: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo tăng cường quản lý các hoạt động văn hóa, lễ hội; quản lý chặt chẽ hoạt động liên kết đào tạo; giải quyết giáo viên dôi dư; chấn chỉnh dạy thêm, học thêm trái quy định, lạm thu đầu năm học và trục lợi quỹ bảo hiểm y tế; tổ chức thành công kỳ thi THPT quốc gia năm 2016; mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế; chỉ đạo thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội và các chế độ, chính sách đối với người có công; cấp gạo hỗ trợ cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn; tăng cường kiểm tra đảm bảo vệ sinh, an toàn lao động; thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giải quyết tranh chấp lao động, đình công trái pháp luật.
2.8. Hoạt động đối ngoại và xúc tiến đầu tư: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã tiếp và làm việc với WB, ADB, Đại sứ Hoa Kỳ, Đoàn công tác của Hoàng tử Qawi - Vương quốc Brunei và các doanh nghiệp, doanh nhân đến từ khu vực Bắc Mỹ, ASEAN, Singapore, Malaysia, Hàn Quốc; Đoàn cán bộ cấp cao tỉnh Gunna - Nhật Bản, Tập đoàn Boston; tổ chức làm việc và xúc tiến đầu tư tại Singapore, Nhật Bản, các tập đoàn lớn trong nước; ký cam kết về tạo lập môi trường cho doanh nghiệp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam.
2.9. Lĩnh vực quốc phòng, an ninh: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo huấn luyện quân sự, chính trị, chuyên ngành cho các đối tượng; mở các đợt cao điểm đấu tranh, trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn; ngăn chặn các hành vi quá khích, lợi dụng khiếu kiện đông người để gây rối; tăng cường bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ.
2.10. Lĩnh vực cải cách hành chính: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo cải cách hành chính trên các lĩnh vực theo hướng tinh gọn, hiệu quả, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính; chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động.
2.11. Lĩnh vực thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân; thực hiện tốt công tác thanh tra; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng; tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.
2.12. Lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021, với tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao nhất từ trước đến nay; đã bầu đủ số lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND tỉnh theo phân bổ.
3. UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo, điều hành thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm được đề ra trong kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh.
3.1. Về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, hoàn thiện thể chế và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực
UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo rà soát, hoàn thiện hệ thống văn bản nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên địa bàn; ban hành quy định đánh giá kết quả thực hiện và xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các sở, ngành và UBND cấp huyện. UBND tỉnh đã ban hành Quy chế làm việc nhiệm kỳ 2016 - 2021 và Chủ tịch UBND tỉnh đã phân công nhiệm vụ cụ thể cho chủ tịch, các phó chủ tịch và các ủy viên nhiệm kỳ 2016 - 2021, tạo tính chủ động và nâng cao trách nhiệm cá nhân trong chỉ đạo giải quyết công việc được giao.
Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành chỉ thị về tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính trong công tác quản lý Nhà nước của các cấp, các ngành; chỉ đạo tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ được giao của các đơn vị; xây dựng các quy định trong công tác nghiệm thu công trình, phối hợp hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, quy trình xử lý phản ánh, kiến nghị của doanh nghiệp; quy định công khai kết quả và xin lỗi trong giải quyết thủ tục hành chính.
3.2. Về thực hiện chương trình công tác năm 2016
a) Nội dung trình UBND tỉnh: năm 2016, có 90 nội dung trình UBND tỉnh; đến nay, UBND tỉnh đã xem xét, cho ý kiến 67 nội dung; gia hạn hoặc đưa ra ngoài chương trình công tác 12 nội dung; 6 nội dung các đơn vị đã trình, nhưng chưa báo cáo UBND tỉnh; 5 nội dung đã quá hạn nhưng các ngành, đơn vị chưa chuẩn bị xong.
b) Nội dung trình Chủ tịch UBND tỉnh: năm 2016, có 62 nội dung trình Chủ tịch UBND tỉnh; đến nay, Chủ tịch UBND tỉnh đã xem xét, cho ý kiến 29 nội dung; gia hạn hoặc đưa ra ngoài chương trình công tác 8 nội dung; 8 nội dung đã quá hạn nhưng các đơn vị chưa chuẩn bị xong và 17 nội dung chưa đến thời hạn báo cáo (trình trong tháng 12-2016).
3.3. Chỉ đạo giải quyết các vấn đề bức xúc:
a) Về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: UBND tỉnh đã xây dựng đề án, báo cáo Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đến năm 2020 và ban hành kế hoạch hành động để thực hiện. Thành lập Ban Chỉ đạo về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm; quy định phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước và tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý và công khai vi phạm trong sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản; xây dựng chính sách hỗ trợ các mô hình thí điểm thực hiện công tác đảm bảo an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh.
b) Về môi trường: UBND tỉnh đã xây dựng đề án, báo cáo Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo vệ môi trường đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 và ban hành kế hoạch hành động để tổ chức thực hiện; chỉ đạo khắc phục kịp thời các sự cố môi trường.
c) Về sử dụng đất đối với các dự án: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo rà soát, đánh giá tình hình thực hiện các dự án có sử dụng đất đã được chấp thuận chủ trương đầu tư từ năm 2010 đến nay, xác định cụ thể các dự án cần thu hồi, chấm dứt hoạt động do vi phạm pháp luật về quản lý đất đai; ban hành và chỉ đạo thực hiện ký quỹ đối với các dự án đầu tư có sử dụng đất; chỉ đạo xây dựng phần mềm theo dõi tình hình thực hiện các dự án đầu tư trực tiếp để triển khai thực hiện.
d) Về đảm bảo chất lượng xây dựng công trình: Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành chỉ thị về tăng cường công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh.
e) Về việc quá tải tại các bệnh viện công lập: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo xây dựng đề án sáp nhập Bệnh viện Lao và Bệnh phổi với Bệnh viện 71 Trung ương, báo cáo Bộ Y tế; thành lập và có chủ trương kêu gọi đầu tư Bệnh viện Chấn thương - Chỉnh hình theo hình thức đối tác công tư.
g) Về tuyển dụng, quản lý, sử dụng công chức, viên chức và lao động hợp đồng: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo tổ chức thi tuyển công chức ngạch chuyên viên năm 2016 theo hướng công khai, minh bạch; ban hành quy định mức bình quân học sinh/lớp và định mức biên chế cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên hành chính các trường THPT công lập; chỉ đạo giải quyết lao động hợp đồng trái quy định; ban hành quy định số lượng cấp phó các phòng, đơn vị thuộc các sở, đơn vị trực thuộc UBND tỉnh, UBND cấp huyện; xây dựng quy chế thi tuyển công chức cấp xã; thanh tra việc quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển công chức, viên chức và hợp đồng lao động tại một số ngành, địa phương.
h) Về bồi thường GPMB: UBND, Chủ tịch UBND tỉnh đã chỉ đạo rà soát, đánh giá thực trạng công tác bồi thường GPMB của các dự án, đề ra cơ chế phối hợp và các giải pháp khắc phục khó khăn, vướng mắc; triển khai đợt cao điểm GPMB thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.

II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Việc chuẩn bị các nội dung trong Chương trình công tác của UBND, Chủ tịch UBND tỉnh ở một số sở, ngành, địa phương chưa đảm bảo thời gian yêu cầu; một số đề án chất lượng chưa cao, phải trình nhiều lần.
2. Việc thực hiện một số nhiệm vụ nhằm giải quyết các vấn đề bức xúc được đề ra trong Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Nghị quyết của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 của một số ngành, địa phương chưa kịp thời, còn chậm so với quy định.
3. Việc tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở một số địa phương chưa kịp thời; giải quyết các kiến nghị, bức xúc của người dân chưa thực sự chủ động, thiếu chặt chẽ, sâu sát, dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp.
4. Công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ trên một số lĩnh vực tuy quyết liệt, nhưng hiệu quả chưa cao như: tiến độ thực hiện dự án đầu tư trực tiếp; khai thác, tập kết cát trái phép; khắc phục ô nhiễm môi trường tại các cụm công nghiệp, bãi chứa rác thải tập trung; thu nợ BHXH bắt buộc; lạm thu ở một số trường học; người dân xuất cảnh trái phép ra nước ngoài làm thuê.
5. Việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính ở một số ngành, địa phương chưa nghiêm; chưa chủ động trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ; việc bổ nhiệm cán bộ, tuyển dụng lao động ở một số nơi chưa đúng quy định của pháp luật và chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND, Chủ tịch UBND tỉnh.
6. Một số sở, ngành, địa phương thực hiện chưa tốt chức năng quản lý Nhà nước và chỉ đạo của UBND, Chủ tịch UBND trên một số lĩnh vực; một số chủ đầu tư chưa tập trung chỉ đạo, đôn đốc, nên tiến độ thực hiện và giải ngân của một số công trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công còn chậm; một số sở, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ được UBND, Chủ tịch UBND tỉnh giao có tỷ lệ công việc hoàn thành đúng hạn đạt thấp.
Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân khách quan là chủ yếu và thuộc trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu các ngành, các cấp.
Phần thứ ba
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017
I. MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU CHỦ YẾU NĂM 2017
1. Mục tiêu chủ yếu
Năm 2017, tập trung nỗ lực cao nhất cho 05 mục tiêu chủ yếu, gồm: (1) đẩy mạnh thu hút đầu tư và khởi công các dự án lớn; (2) phát triển mạnh doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng; (3) giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc; (4) thực hiện tốt các chương trình, nhiệm vụ, giải pháp đột phá trong công tác giảm nghèo; (5) đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh giản biên chế; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước của chính quyền các cấp.
2. Các chỉ tiêu chủ yếu
a) Về kinh tế 
- Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 12% trở lên.
- GRDP bình quân đầu người đạt 1.750 USD.
- Cơ cấu các ngành trong GRDP: nông, lâm, thủy sản chiếm 15,1%; công nghiệp - xây dựng chiếm 42,7%, dịch vụ chiếm 38,1%; thuế sản phẩm chiếm 4,1%.
- Sản lượng lương thực giữ ở mức 1,6 triệu tấn.
- Tổng giá trị xuất khẩu đạt 1,85 tỷ USD.
- Tổng huy động vốn đầu tư phát triển đạt 106.000 tỷ đồng.
- Tổng thu NSNN đạt 13.512 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 9.312 tỷ đồng.
- Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 35,4%.
- Thành lập mới 3.000 doanh nghiệp.
b) Về xã hội
- Tốc độ tăng dân số dưới 0,65%.
- Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 42,5%.
- Số bác sỹ/vạn dân đạt 8,5.
- Số giường bệnh/vạn dân đạt 26,1.
- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế đạt 65%.
- Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế trên tổng số dân đạt 82,3%.
- Giải quyết việc làm cho 65.500 lao động (xuất khẩu 10.000 lao động).
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 61%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 22% trở lên.
- Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 2,5% trở lên (theo chuẩn mới).
- Tỷ lệ trường học đạt chuẩn quốc gia đạt 59,7%.
c) Về môi trường
- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 53,03%.
- Tỷ lệ dân số đô thị được dùng nước sạch đạt 89%.
- Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh đạt 92%.
- Tỷ lệ chất thải nguy hại được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn đạt 70%.
- Tỷ lệ chất thải y tế được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn đạt 96%.
d) Về an ninh trật tự
- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự đạt 70%.

II. MỘT SỐ NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM

1. Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh phát triển; đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng
1.1. Đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; thực hiện tốt các cơ chế, chính sách phát triển nông, lâm, thủy sản đã ban hành; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển mạnh nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, an toàn; thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; khuyến khích phát triển lâm nghiệp theo hướng bền vững; tăng cường quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng; tổ chức lại sản xuất trên biển, phát triển các mô hình tổ, đội, hợp tác xã; nâng cao năng lực của lực lượng kiểm ngư để giám sát, thực thi pháp luật trên biển và hỗ trợ ngư dân sản xuất; tiếp tục chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, phấn đấu năm 2017 có thêm 01 huyện, 45 xã đạt chuẩn nông thôn mới.
1.2. Thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển Khu Kinh tế Nghi Sơn và các Khu công nghiệp; đầu tư kết cấu hạ tầng theo hướng hoàn thiện từng phân khu; hoàn thành Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn theo kế hoạch, đồng thời đẩy mạnh thu hút đầu tư các dự án chế biến sản phẩm sau lọc hóa dầu, công nghiệp phụ trợ; thu hút các dự án công nghệ cao vào khu công nghiệp Lam Sơn - Sao Vàng.
Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án công nghiệp trọng điểm, dự án dự kiến hoàn thành năm 2017; chuẩn bị các điều kiện để khởi công nhiệt điện Nghi Sơn 2, khu liên hợp gang thép Nghi Sơn. Tháo gỡ khó khăn, tạo thuận lợi cho các cơ sở sản xuất phát huy tối đa năng lực hiện có, đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất, kinh doanh; thực hiện tốt chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại đến năm 2021.
1.3. Đẩy mạnh tái cơ cấu và phát triển ngành dịch vụ, tập trung phát triển nhanh các dịch vụ có giá trị gia tăng cao mà tỉnh có nhiều lợi thế. Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển du lịch; chú trọng phát triển các sản phẩm dịch vụ du lịch chất lượng cao; đào tạo nguồn nhân lực du lịch, trong đó phải đặc biệt coi trọng văn hóa giao tiếp, thái độ phục vụ; hỗ trợ, tạo thuận lợi để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án phát triển du lịch, nhất là các dự án của Sun group, FLC.
Đẩy mạnh phát triển thương mại nội địa gắn với thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm và mở rộng thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu. Khai thác hiệu quả Cảng hàng không Thọ Xuân; phát triển mới một số đường bay trong nước; đấu mối với các cơ quan liên quan để đưa Cảng hàng không Thọ Xuân vào quy hoạch cảng hàng không quốc tế.
1.4. Thực hiện tốt đề án phát triển doanh nghiệp đến năm 2020; phát động phong trào khởi nghiệp, khuyến khích chuyển đổi hộ kinh doanh cá thể sang doanh nghiệp. Thực hiện có hiệu quả “3 đồng hành và 5 hỗ trợ” đối với doanh nghiệp; tiếp tục cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, thoái vốn Nhà nước và sắp xếp, chuyển đổi chủ sở hữu doanh nghiệp theo lộ trình; nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư phát triển, quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
2. Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư; đẩy mạnh xúc tiến đầu tư nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển
Tổ chức thực hiện tốt Kết luận số 46-KL/TU của Tỉnh ủy và Kế hoạch hành động của UBND tỉnh liên quan đến cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh; hoàn thành rà soát, cập nhật quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đến năm 2020, quy hoạch giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040 và điều chỉnh quy hoạch chung Khu Kinh tế Nghi Sơn để điều chỉnh, bổ sung, xây dựng mới các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu và quy hoạch chi tiết các khu chức năng. Rà soát, hoàn thiện quy định liên quan đến đất đai để thực hiện dự án đầu tư theo hướng minh bạch, tạo thuận lợi hơn nữa cho nhà đầu tư; điều chỉnh lại giá thuê đất, tạo sức hấp dẫn để thu hút đầu tư.
Tiếp tục đổi mới cả về nội dung và hình thức xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch theo hướng cụ thể, chi tiết. Củng cố và mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức kinh tế, tài chính, các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong và ngoài nước để đẩy mạnh kêu gọi, thu hút đầu tư; chuẩn bị tốt các điều kiện để tổ chức một số hội nghị xúc tiến đầu tư lớn vào tỉnh.
Huy động đa dạng các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng nhằm tạo ưu thế, thuận lợi cho thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng huy động nguồn vốn theo hình thức đối tác công tư; chỉ đạo xây dựng đề án huy động vốn từ quỹ đất; đồng thời, rà soát, đánh giá hiệu quả các dự án đấu giá đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất; tập trung giải quyết dứt điểm những khó khăn, vướng mắc, đặc biệt là công tác bồi thường GPMB để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án.
3. Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa - xã hội; thực hiện tốt công tác giảm nghèo, giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội
3.1. Thực hiện tốt kế hoạch hành động thực hiện khâu đột phá về nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; khuyến khích nghiên cứu, đổi mới sáng tạo.
3.2. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; rà soát, sắp xếp mạng lưới các trường phổ thông, tiểu học theo quy hoạch; đầu tư kiên cố hóa trường, lớp học và nhà ở nội trú cho học sinh các trường phổ thông ở các huyện miền núi; quản lý chặt chẽ hoạt động liên kết đào tạo, dạy thêm, học thêm; giải quyết dứt điểm tình trạng thừa thiếu giáo viên.
3.3. Đẩy mạnh ứng dụng, chuyển giao kỹ thuật cao trong khám và điều trị tại các bệnh viện; hình thành và phát triển mô hình bác sỹ gia đình; khắc phục tình trạng lạm dụng quỹ bảo hiểm y tế; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; đưa vào hoạt động Khoa quốc tế - Bệnh viện Đa khoa tỉnh.
3.4. Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả đề án phát huy các giá trị truyền thống của con người Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế; phấn đấu tỷ lệ thôn, làng, bản, cơ quan, đơn vị được công nhận kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đạt 2%. Tiếp tục quan tâm phát triển sự nghiệp thể dục thể thao.
3.5. Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình giảm nghèo; nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội.
4. Nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản; bảo vệ và cải thiện môi trường; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu
Rà soát, hoàn thiện các quy định về quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; hoàn thành rà soát, cập nhật quy hoạch sử dụng đất các cấp; quy định rõ trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp huyện, xã, chủ đầu tư và giám đốc các sở, ban, ngành có liên quan trong công tác GPMB; tiếp tục rà soát các dự án đã được giao đất, cho thuê đất, dự án khai thác, chế biến khoáng sản; thu hồi các dự án vi phạm các quy định về quản lý đất đai, khoáng sản.
Tổ chức thực hiện có hiệu quả nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác bảo vệ môi trường; quản lý chặt chẽ nguồn gây ô nhiễm, đồng thời khắc phục hiệu quả tình trạng ô nhiễm môi trường; thực hiện tốt cơ chế hỗ trợ xử lý chất thải rắn sinh hoạt giai đoạn 2016 - 2020.
5. Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn
Xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh toàn diện, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội; bảo vệ an toàn tuyệt đối trong các ngày lễ lớn, các sự kiện quan trọng của đất nước, của tỉnh. Tăng cường đấu tranh trấn áp các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, kiềm chế, không để tội phạm gia tăng. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc về an ninh trật tự.
6. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính
Kiện toàn và quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức các sở, ban, ngành gắn với thực hiện tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; ban hành mới quy định phân công, phân cấp quản lý tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức và phê duyệt đề án vị trí việc làm trong các cơ quan Nhà nước để triển khai thực hiện; xây dựng kế hoạch khắc phục những hạn chế, yếu kém để tập trung chỉ đạo thực hiện.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội trên các lĩnh vực; tăng cường kiểm tra, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị theo chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh gắn với xử lý trách nhiệm của người đứng đầu; thực hiện tốt lộ trình tinh giản biên chế.
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả kế hoạch cải hành chính Nhà nước giai đoạn 2016 - 2020; cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện và rút ngắn thời gian giải quyết tối thiểu 30% so với quy định; xúc tiến thành lập Trung tâm hành chính công tỉnh Thanh Hóa.
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
(Nguồn: Báo Thanh Hóa điện tử)
 

Trung ương nhận diện 27 biểu hiện suy thoái, 'tự diễn biến'

(THO) Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành ngày 30/10 mới đây về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ và đề ra các giải pháp khắc phục.

ảnh 1.jpg

Hội nghị Trung ương 4
Theo đó, Trung ương chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng-chính trị, đạo đức-lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.

Chín biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị mà Trung ương chỉ ra gồm:

1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.

9) Vướng vào "tư duy nhiệm kỳ", chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

Về đạo đức, lối sống, theo Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hiện có các biểu hiện suy thoái:

1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.

3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

4) Mắc bệnh "thành tích", háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, "đánh bóng" tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; "chạy thành tích", "chạy khen thưởng", "chạy danh hiệu".

5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên...; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tuỳ tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội... Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

9) Đánh bạc, rượu chè bê tha, mê tín dị đoan, ủng hộ hoặc tham gia các tổ chức tôn giáo bất hợp pháp. Sa vào các tệ nạn xã hội, vi phạm thuần phong, mỹ tục, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, chuẩn mực đạo đức gia đình và xã hội.

Trung ương cũng nhận diện có 9 biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ hiện nay:

1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện "đa nguyên, đa đảng".

2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự". Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi "phi chính trị hoá" quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học-nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

Bốn nhóm giải pháp khắc phục

Nghị quyết số 04-NQ/TW nhấn mạnh: Đại hội XII của Đảng đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá " trong nội bộ. Do đó, Trung ương yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau với quan điểm "Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa "xây" và "chống"; "xây" là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; "chống" là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách":
Nhóm giải pháp về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình:

1) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị.

2) Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.

3) Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân. Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; các cấp uỷ, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

4) Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp uỷ các cấp.

5) Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất.

6) Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất; chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm quy định về thông tin, báo chí, tuyên truyền.

7) Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

8) Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái. Tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

9) Cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

10) Hằng năm hoặc khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với cán bộ, tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên là: chương trình hành động của tập thể và cá nhân; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả thực hiện cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách:

1) Các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Trước mắt, rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

2) Các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xoá bỏ cơ chế "xin - cho", "duyệt - cấp"; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, "lợi ích nhóm", "sân sau", trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế... Tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt.

3) Kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương. Thực hiện chế độ hợp đồng có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước.

4) Đẩy mạnh xã hội hoá, tách cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức. Rà soát, thoái vốn, cổ phần hoá, chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp quân đội và công an sản xuất kinh doanh thua lỗ, không phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

5) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, "liên hoan", "gặp mặt" không lành mạnh, với động cơ không trong sáng; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, như: phân công, phân cấp, thẩm quyền quản lý, quy trình bổ nhiệm,... nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tổng thể, liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị và chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

6) Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương trong đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Nhóm giải pháp về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

1) Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng. Xử lý nghiêm tập thể, cá nhân ban hành văn bản không đúng, không phù hợp hoặc thực hiện không nghiêm túc các nội dung nghị quyết, kết luận của Đảng; khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân thực hiện có hiệu quả.

2) Các cấp uỷ, tổ chức đảng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá". Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp uỷ các cấp chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận.

3) Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương và cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của uỷ ban kiểm tra các cấp trong việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên. Rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.

4) Tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời, xem xét tư cách đảng viên và phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.

5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật; trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm và công khai kết quả xử lý.

6) Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Cấp uỷ các cấp chỉ đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên; đồng thời, tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa ngay những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

7) Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên. Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định.

8) Xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" nghiêm trọng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng phải chịu trách nhiệm nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Nhóm giải pháp về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội:

1) Các cấp uỷ, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

2) Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân.

3) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

4) Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên. Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp.

5) Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Trung ương tin tưởng rằng, với truyền thống cách mạng vẻ vang và bản chất tốt đẹp của Đảng, ý thức tự giác của từng cán bộ, đảng viên, sự gương mẫu của từng đồng chí Uỷ viên Trung ương, người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp và được nhân dân đồng tình, ủng hộ, nhất định toàn Đảng sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết, để Đảng ta thật sự vững vàng về chính trị và tư tưởng, thống nhất cao về ý chí và hành động, trong sạch về đạo đức và lối sống, chặt chẽ về tổ chức, đủ sức lãnh đạo đưa đất nước ngày càng phát triển, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân.
(Nguồn: Báo Thanh Hóa điện tử)
 

Nỗ lực bảo đảm cung cấp nguồn nước cho Khu Kinh tế Nghi Sơn

 

Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Thị Thìn phát biểu kết luận tại hội nghị.
(THO) - Ngày 18-5, đồng chí Lê Thị Thìn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã có buổi làm việc với các đơn vị liên quan về việc bảo đảm cung cấp nước (cả nước sạch và nước thô) cho Dự án Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) và các dự án khác trên địa bàn Khu Kinh tế Nghi Sơn (KKTNS).
Tham dự có đại diện lãnh đạo các ngành có liên quan của tỉnh, Ban Quản lý KKTNS, Công ty TNHH MTV Sông Chu, Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn, Công ty TNHH XD và SXVLXD Bình Minh (Công ty Bình Minh).

Theo kế hoạch, dự án NSRP sẽ sử dụng lưu lượng nước với công suất 30.000 m3/ngày đêm cho giai đoạn chạy thử và vận hành thương mại từ tháng 11- 2016. Ngoài cung cấp nước cho dự án NSRP, Công ty Bình Minh còn cung cấp nước cho một số dự án khác trong Khu kinh tế Nghi Sơn, như: Cảng Nghi Sơn, Nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn 1 và các dự án dịch vụ, sản xuất, kinh doanh khác. Dự kiến cuối năm 2016, dự án Nhiệt điện Nghi Sơn 2 khởi công xây dựng sẽ cần công suất nước thô khoảng 5.000 m3/ngày đêm. Với dung lượng hiện có của hồ Đồng Chùa chỉ đạt khoảng 1,3 triệu m3, do vậy phương án bảo đảm đủ lưu lượng nước thô trong thời gian tới gặp khó khăn. Hiện tại Công ty TNHH MTV Sông Chu đang triển khai dự án đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước KTTNS sử dụng nguồn vốn vay Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB). Mục tiêu của dự án là cấp nước cho KKTNS với công suất 90.000 m3/ngày đêm. Đến 16-5-2016 công ty đã ký hiệp định các khoản vay, ký hợp đồng với đơn vị tư vấn trúng thầu thiết kế kỹ thuật bản vẽ thi công. Tuy nhiên, lộ trình triển khai dự án này sẽ không đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của KKTNS năm 2017 và 2018.

Tại hội nghị, đại diện dự án NSRP, Công ty Bình Minh, Công ty TNHH MTV Sông Chu nêu lên những khó khăn trong khả năng cấp nước cho Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn giai đoạn chạy thử và vận hành thương mại, nguy cơ mất an toàn cấp nước do tình trạng lấn chiếm hành lang an toàn đường ống cấp nước trong khu kinh tế...

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lê Thị Thìn đánh giá cao tinh thần, trách nhiệm và sự vào cuộc quyết liệt của các ngành, đơn vị liên quan. Để bảo đảm nguồn nước cung cấp cho dự án NSRP và KKTNS, đồng chí yêu cầu, đến ngày 30-6-2016 phải hoàn thành công tác GPMB toàn tuyến đường ống dẫn nước. Để làm tốt công tác GPMB, Sở Tài nguyên và Môi trường giúp huyện Tĩnh Gia xác định nguồn gốc đất. Công ty TNHH MTV Sông Chu tham mưu cho UBND tỉnh làm việc với ADB; xây dựng các phương xử lý các sự cố cấp nước; đồng thời, đấu mối sớm với các sở, ngành hoàn thiện hồ sơ mời thầu. Sở Y tế phối hợp các đơn vị cung cấp nước trong KKTNS kiểm tra chất lượng nước theo tiêu chuẩn. Ban quản lý KKTNS xây dựng phương án phối hợp với huyện Tĩnh Gia tiến hành GPMB đối với 100 hộ dân tái lấn chiếm mặt bằng dự án nước sạch trước ngày 30-6-2016. Xây dựng phương án cấp nước cho toàn bộ KKTNS có phân kỳ theo nhu cầu. Sở Công thương lên phương án bảo đảm điện lưới, phương án dự phòng về cung cấp điện phục vụ KKTNS, đặc biệt là đối với dự án cấp nước. Sở Kế hoạch và Đầu tư tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện quy trình lựa chọn nhà thầu tham gia dự án cấp nước theo quy định, tham mưu hình thức đầu tư. Công ty Bình Minh thực hiện đúng cam kết hợp đồng với Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn, cam kết với tỉnh, chậm nhất tháng 10-2016 hoàn thành giai đoạn 2 dự án. Công an tỉnh và huyện Tĩnh Gia tham gia tích cực trong công tác an ninh trật tự hỗ trợ Ban quản lý KKTNS, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và GPMB để bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư triển khai dự án cấp nước.

 

 

 

Cuối năm 2016 phải bảo đảm cấp đủ nước cho các dự án tại Khu Kinh tế Nghi Sơn

 

Đồng chí Trịnh Văn Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, chủ trì hội nghị.
(THO) - Ngày 20 – 5, Thường trực Tỉnh ủy tổ chức hội nghị bàn phương án giải quyết cấp nước phục vụ cho Dự án Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) và các dự án khác trong Khu Kinh tế Nghi Sơn (KKTNS).
Đồng chí Trịnh Văn Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, chủ trì hội nghị. Dự hội nghị có các đồng chí Đỗ Minh Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Phạm Thanh Sơn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; Lê Thị Thìn, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các ngành có liên quan của tỉnh; Ban Quản lý KKTNS; Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng UBND tỉnh; huyện Tĩnh Gia; Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn; Công ty TNHH MTV Sông Chu (Công ty Sông Chu); Công ty TNHH Xây dựng và Sản xuất vật liệu xây dựng Bình Minh – chi nhánh Thanh Hóa (Công ty Bình Minh).
Theo báo cáo của Ban Quản lý KKTNS, trong giai đoạn xây dựng, nhu cầu nước của NSRP là 15.000 m3/ngày đêm, giai đoạn chạy thử (từ tháng 11-2016) và vận hành thương mại 30.000 m3/ngày đêm. Việc cung cấp nước đã qua xử lý có vai trò đặc biệt quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chạy thử, vận hành thương mại của NSRP, có thể dẫn đến dừng hoạt động sản xuất nếu không đủ nước. Trên cơ sở quy hoạch chung KKTNS, các dự án đăng ký đầu tư và kế hoạch triển khai các dự án trong thời gian tới, nhu cầu nước sạch năm 2016 khoảng hơn 48.800 m3/ngày đêm, đến năm 2020 hơn 121.300 m3... Nhưng hiện nay mới đáp ứng nước sạch được 30.000 m3. Dự án cấp nước thô giai đoạn 2 công suất 90.000 m3/ngày đêm do Công ty Sông Chu làm chủ đầu tư, sử dụng vốn vay Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), dự kiến hoàn thành tháng 3–2018. Dự án cấp nước sạch do Công ty Bình Minh đầu tư xây dựng đã hoàn thành giai đoạn 1, công suất 30.000 m3/ngày đêm và hiện đang triển khai đầu tư giai đoạn 2 để nâng công suất lên 90.000 m3/ngày đêm. 
Sau ý kiến của đồng chí Đỗ Minh Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, các đại biểu; phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Trịnh Văn Chiến, nêu rõ: Thời gian qua, UBND tỉnh, các ngành có liên quan của tỉnh, Ban Quản lý KKTNS đã có nhiều cố gắng trong triển khai đầu tư cấp nước cho các dự án tại khu kinh tế, nhưng thực tế tiến độ quá chậm. Đây là vấn đề báo động của việc cấp nước cho KKTNS, nhất là NSRP. Chính vì vậy tỉnh, các ngành, các cấp cần tập trung cao giải quyết ngay những khó khăn, vướng mắc của dự án cấp nước cho KKTNS. Việc cấp nước phải tính toán thật kỹ thực tế thu hút đầu tư, điều kiện khí hậu thời tiết để đưa ra phương án bảo đảm đạt hiệu quả cao nhất; nhất là nhu cầu nước cho NSRP. Phải quan tâm triển khai thực hiện ngay để cuối năm 2016 bảo đảm đủ nước cho NSRP, các dự án khác tại KKTNS. Tập trung chỉ đạo triển khai đầu tư thay thế 4,6 km đầu tuyến của dự án cấp nước thô giai đoạn 1, giao cho Ban Quản lý KKTNS thực hiện dự án và hoàn thành trước 30–8–2016; đồng thời, xây dựng hoàn chỉnh trạm bơm tăng áp, tính toán nguồn điện dự phòng để trạm bơm hoạt động liên tục. Huyện Tĩnh Gia thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng (kể cả phần tái lấn chiếm) để bàn giao cho Ban Quản lý KKTNS thực hiện dự án. Sau khi hoàn thành, tổ chức vận hành thử và bàn giao cho Công ty Sông Chu quản lý. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy đồng ý chủ trương chuyển 2.000 ha đất sản xuất tưới nước thuộc lưu vực hồ Sông Mực sang lấy nguồn nước khác để đưa vào phục vụ nước cho KKTNS và triển khai lập dự án đầu tư, tổ chức thi công ngay. Ban Quản lý KKTNS, Công ty Sông Chu tham mưu cho tỉnh lựa chọn đầu tư phù hợp để đưa nước từ hồ Sông Mực về hồ Quế Sơn và hoàn thành trước ngày 30-11-2016. Về lâu dài, giao cho UBND tỉnh chỉ đạo, tính toán đầu tư để bảo đảm nguồn nước phục vụ cho các dự án tại KKTNS. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đề nghị Công ty Bình Minh rà soát lại toàn bộ đường ống nước đã đầu tư để vận hành bảo đảm công suất thiết kế, chất lượng nước theo quy định. Đồng thời, cân đối nguồn lực, hoàn chỉnh thủ tục để đầu tư nâng công suất nhà máy nước sạch theo đúng kế hoạch UBND tỉnh giao; trong quá trình cấp nước phải ưu tiên cho NSRP. Nếu các dự án đã và đang triển khai thực hiện chưa bảo đảm đủ nguồn nước cấp cho các dự án tại KKTNS, thì Ban Quản lý KKTNS báo cáo UBND tỉnh có phương án giải quyết và nghiên cứu phương án thoát nước cho KKTNS. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh giao cho Ban cán sự Đảng UBND tỉnh có kế hoạch cụ thể để thực hiện những nội dung trên. Thủ trưởng các ngành có liên quan của tỉnh chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ liên quan đến cấp nước cho KKTNS.

 

 

 

Kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XVII, nhiệm kỳ 2016 - 2021

 

Ủy ban Bầu cử tỉnh biểu quyết thông qua biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XVII, nhiệm kỳ 2016-2021. Ảnh: Hồng Hạnh

(THO) - Chiều 27-5, Ủy ban Bầu cử tỉnh đã tổ chức hội nghị thông qua biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV ở tỉnh Thanh Hóa và biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu HĐND tỉnh Thanh Hóa khóa XVII, nhiệm kỳ 2016 – 2021.Đồng chí Nguyễn Đình Xứng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Ủy ban Bầu cử tỉnh chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Ủy ban Bầu cử tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy là Phó Chủ tịch và Ủy viên Ủy ban Bầu cử tỉnh; các đồng chí Thường trực UBND tỉnh và Ủy ban Bầu cử tỉnh.

Theo Nghị quyết số 53/NQ-HĐBCQG ngày 3-3-2016 của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Thanh Hóa được bầu 14 đại biểu Quốc hội. Theo  Nghị quyết số 270/NQ-HĐBCQG ngày 26-4-2016, có 24 người ứng cử tại 5 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kiểm tra biên bản xác định kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội của các ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban Bầu cử xác định  kết quả đã bầu đủ 14 đại biểu Quốc hội khóa XIV.

Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, tỉnh Thanh Hóa được bầu 95 đại biểu HĐND tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021. Theo Quyết định số 67/QĐ-UBBC ngày 27-4-2016, có 159 người ứng cử tại 31 đơn vị bầu cử đại biểu HĐND tỉnh trên địa bàn Thanh Hóa. Sau khi kiểm tra biên bản xác định kết quả cuộc bầu cử của các ban bầu cử, Ủy ban Bầu cử xác nhận kết quả đã bầu đủ 95 đại biểu HĐND tỉnh với số phiếu tập trung, đảm bảo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo cơ cấu, chất lượng, thành phần theo phân bổ.

Tại hội nghị, các đồng chí trong Ủy ban Bầu cử tỉnh đã thống nhất, biểu quyết thông qua biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV ở tỉnh Thanh Hóa và biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu HĐND tỉnh,  nhiệm kỳ 2016 – 2021.

(THO) trân trọng đăng danh sách những người trúng cử đại biểu HĐND tỉnh khóa XVII, nhiệm kỳ 2016 – 2021:



 

 

Tóm tắt Hiệp định TPP

Ngày 4/10/2015, Bộ trưởng của 12 nước tham gia TPP gồm Úc, Brunei Darussalam, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ, và Việt Nam đã tuyên bố kết thúc đàm phán   với kết quả là một Hiệp định có những tiêu chuẩn cao, tham vọng, toàn diện và cân bằng với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hỗ trợ tạo ra và duy trì việc làm; tăng cường đổi mới, năng suất, và sức cạnh tranh; nâng cao mức sống; giảm đói nghèo ở các nước ký kết; đồng thời thúc đẩy quản lý hiệu quả, minh bạch, bảo vệ người lao động, và bảo vệ môi trường.  Chúng tôi kỳ vọng rằng việc ký kết TPP với các tiêu chuẩn cao mới cho thương mại và đầu tư tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương sẽ là một bước gần hơn đến mục tiêu cuối cùng là mở cửa thương mại và hội nhập cho toàn khu vực.

NỘI DUNG CƠ BẢN

Có 5 đặc điểm chính đã làm TPP trở thành một Hiệp định quan trọng của thế kỷ 21, đặt ra các tiêu chuẩn mới cho thương mại toàn cầu, đồng thời tiếp tục giải quyết các vấn đề của thời đại mới.  Những đặc điểm đó bao gồm:

Tiếp cận thị trường toàn diện. TPP đã xóa bỏ hoặc giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan một cách đáng kể đối với mua bán hàng hóa và dịch vụ, bao trùm một mảng lớn về thương mại, bao gồm hàng hóa, dịch vụ, và đầu tư nhằm tạo ra các cơ hội mới và lợi ích cho doanh nghiệp, công nhân, và người tiêu dùng của các nước ký kết.

Cách tiếp cận các cam kết khu vực. TPP hỗ trợ sự phát triển sản xuất, chuỗi cung ứng, và thương mại liền mạch, tăng cường hiệu quả, tạo và hỗ trợ việc làm, nâng cao mức sống, tăng cường các nỗ lực bảo tồn, hỗ trợ hội nhập xuyên biên giới, cũng như mở cửa thị trường trong nước.

- Giải quyết các thách thức thương mại mới. TPP thúc đẩy sự đổi mới, năng suất, và tính cạnh tranh nhờ vào việc xem xét giải quyết các vấn đề mới, trong đó có phát triển kinh tế kỹ thuật số và vai trò của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế toàn cầu.

Thương mại toàn diện. TPP bao gồm các yếu tố mới nhằm đảm bảo các nền kinh tế ở các mức độ phát triển khác nhau và các doanh nghiệp có quy mô khác nhau đều có thể đạt được lợi ích từ thương mại.  Hiệp định bao gồm cam kết giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiểu được Hiệp định, nắm bắt các cơ hội, và buộc chính quyền các nước tham gia TPP phải chú ý đến những thách thức đặc thù của mình.  Hiệp định cũng bao gồm những cam kết cụ thể về phát triển và xây dựng năng lực thương mại để đảm bảo rằng tất cả các Bên có thể tuân thủ cam kết trong Hiệp định và tận dụng được những lợi ích.

Nến tảng hội nhập khu vực. TPP được định hình như một nền tảng cho hội nhập kinh tế khu vực và nhắm đến cả những nền kinh tế khác trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

Phạm vi áp dụng

- TPP bao gồm 30 chương về thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại, từ thương mại hàng hóa đến hải quan và trợ giúp thương mại; biện pháp vệ sinh dịch tễ; rào cản kỹ thuật đối với thương mại; biện pháp phòng vệ thương mại; đầu tư; dịch vụ; thương mại điện tử; mua sắm công; sở hữu trí tuệ; lao động; môi trường; các chương “ngang” nhằm mục đích đảm bảo TPP tận dụng được các tiềm năng về phát triển, năng lực cạnh tranh, và sự toàn diện; giải quyết tranh chấp, các điều khoản ngoại lệ, và điều khoản thi hành.

- Ngoài cập nhật các phương pháp truyền thống đối với vấn đề của các hiệp định thương mại tự do trước đây, TPP còn đưa vào các vấn đề thương mại mới và các vấn đề xuyên suốt, bao gồm các vấn đề liên quan đến Internet và nền kinh tế kỹ thuật số, sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước trong đầu tư và thương mại quốc tế , khả năng của các doanh nghiệp nhỏ để tận dụng lợi thế của các hiệp định thương mại, và các chủ đề khác.

- TPP kết nối một nhóm gồm nhiều nước đa dạng về mặt địa lý, ngôn ngữ và lịch sử, kích thước và mức độ phát triển. Tất cả các nước ký kết TPP nhận thấy rằng sự đa dạng là một tài sản đặc thù, nhưng cũng đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ, xây dựng năng lực cho các nước TPP kém phát triển hơn, và phát triển năng lực để thực hiện những nghĩa vụ mới trong một số trường hợp trong thời gian chuyển tiếp đặc biệt và có cơ chế cho phép một số Bên thêm thời gian.

ĐẶT RA CÁC QUY ĐỊNH THƯƠNG MẠI TRONG KHU VỰC

Dưới đây là tóm tắt của 30 chương trong TPP. Các bảng biểu và phụ lục được đính kèm các chương của Hiệp định liên quan đến thương mạihàng hóa và dịch vụ , đầu tư, mua sắm công, và tạm nhập cảnh cho doanh nhân. Ngoài ra, chương về doanh nghiệp nhà nước cũng bao gồm phụ lục về các quốc gia ngoại lệ cụ thể.

1. Quy định chung và các định nghĩa

Nhiều Bên ký kết TPP (sau đây gọi là Bên) hiện đã có các thỏa thuận với nhau. Các quy định ban đầu và định nghĩa chung trong chương này thừa nhận rằng TPP có thể tồn tại song song với các thỏa thuận thương mại quốc tế giữa các Bên, bao gồm Hiệp định WTO, các hiệp định song phương và khu vực. Chương này cũng cung cấp định nghĩa của các thuật ngữ được sử dụng trong nhiều chương khác của Hiệp định.

2. Thương mại hàng hóa

Các Bên đồng ý xoá bỏ và cắt giảm thuế quan và các rào cản phi thuế quan đối với hàng hóa công nghiệp, xóa bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và các chính sách hạn chế khác về hàng hoá nông nghiệp. Các tiếp cận ưu đãi được cung cấp thông qua TPP sẽ tăng cường thương mại giữa các quốc gia TPP trong một thị trường gồm 800 triệu người và sẽ hỗ trợ việc làm chất lượng cao trong tất cả 12 nước thành viên. Hầu hết việc loại bỏ thuế quan đối hàng công nghiệp sẽ được thực hiện ngay lập tức, mặc dù thuế đối với một số sản phẩm sẽ được loại bỏ theo một khung thời gian dài hơn như các Bên đã thỏa thuận. Việc cắt giảm thuế cụ thể theo thỏa thuận của các Bên có trong lịch trình bao gồm tất cả các mặt hàng. Các Bên sẽ công bố tất cả các sắc thuế và thông tin khác liên quan đến thương mại hàng hóa để đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như các công ty lớn có thể tận dụng lợi thế của TPP. Các Bên cũng đồng ý không áp đặt các yêu cầu bao gồm những điều kiện như tỷ lệ sản xuất của địa phương do một số nước áp đặt mà các công ty cần tuân thủ để có lợi ích thuế quan. Ngoài ra, các Bên cũng đồng ý không áp đặt các hạn chế và thuế không đồng nhất của WTO đối với nhập khẩu và xuất khẩu , bao gồm cả hàng hóa tái sản xuất – vốn sẽ thúc đẩy việc tái chế các bộ phận thành các sản phẩm mới. Các Bên giữ nguyên các yêu cầu về nhập khẩu hoặc giấy phép xuất khẩu sẽ thông báo cho nhau về các thủ tục để tăng tính minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy thương mại.

Các Bên sẽ loại bỏ hoặc cắt giảm thuế quan và chính sách hạn chế khác đối với các sản phẩm nông nghiệp nhằm mục đích tăng cường thương mại nông nghiệp trong khu vực và tăng cường an ninh lương thực. Ngoài loại trừ hoặc cắt giảm thuế quan, các Bên đồng ý thúc đẩy cải cách chính sách, kể cả việc loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông nghiệp, làm việc cùng nhau trong WTO để xây dựng quy định về doanh nghiệp xuất khẩu thương mại nhà nước , tín dụng xuất khẩu, và giảm thời gian hạn chế xuất khẩu lương thực để cải thiện an ninh lương thực trong khu vực. Các Bên cũng đã đồng ý tăng tính minh bạch và hợp tác trên một số hoạt động liên quan đến công nghệ sinh học nông nghiệp.

3. Dệt may

Các Bên đồng ý xoá bỏ thuế quan đối với hàng dệt và may mặc, các ngành công nghiệp có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế tại thị trường của một số Bên. Hầu hết các sắc thuế sẽ được xóa bỏ ngay lập tức, mặc dù thuế đối với một số sản phẩm nhạy cảm sẽ được xóa bỏ trong khung thời gian dài hơn theo thỏa thuận của các Bên. Chương này cũng bao gồm các quy định cụ thể xuất xứ, trong đó có yêu cầu về việc sử dụng của các loại sợi và vải trong khu vực TPP nhằm thúc đẩy chuỗi cung ứng và đầu tư vào lĩnh vực này trong khu vực nhờ cơ chế áp dụng "danh sách ngắn các nhà cung cấp" cho phép việc sử dụng các loại sợi và vải nhất định vốn không có sẵn trong khu vực. Ngoài ra, chương này cũng bao gồm các cam kết về hợp tác hải quan và thực thi để ngăn chặn tình trạng trốn thuế, buôn lậu và gian lận, cũng như các biện pháp tự vệ đặc biệt đối với ngành dệt để ứng phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp trong nước trong trường hợp nhập khẩu ồ ạt.

4. Quy tắc xuất xứ

Để cung cấp các quy tắc xuất xứ đơn giản, thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực, và giúp đảm bảo rằng các nước tham gia TPP là những Bên hưởng lợi chính của Hiệp định chứ không phải các nước khác, 12 Bên đã nhất trí về một bộ quy tắc xuất xứ để xác định liệu một hàng hóa cụ thể có xuất xứ từ TPP và do đó đủ điều kiện để nhận được ưu đãi thuế quan TPP. Các quy tắc xuất xứ cụ thể được đính kèm với toàn văn Hiệp định. TPP có quy định về "tích lũy", cho nên nói chung, nguyên liệu đầu vào từ một trong các các nước ký kết được xem như nguyên vật liệu từ một nước ký kết khác nếu nguyên liệu đó được sử dụng để sản xuất ra một sản phẩm tại bất kỳ nước ký kết nào. Các Bên cũng đã đặt ra các quy tắc nhằm đảm bảo doanh nghiệp có thể dễ dàng hoạt động trên toàn khu vực TPP bằng cách tạo ra một hệ thống chung trong TPP cho phép hiển thị và xác minh hàng hoá sản xuất trong khu vực TPP đáp ứng các quy tắc xuất xứ. Nhà nhập khẩu sẽ có thể yêu cầu áp dụng ưu đãi thuế quan, miễn là họ có tài liệu chứng minh đủ điều kiện áp dụng. Ngoài ra, chương này cũng cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền các thủ tục để xác minh các yêu cầu này một cách thích hợp.

5. Hải quan và thuận lợi hóa thương mại

Nhằm bổ sung cho các nỗ lực tạo thuận lợi cho thương mại khi gia nhập WTO , các Bên đã nhất trí về quy định tăng cường thuận lợi hóa thương mại, nâng cao tính minh bạch trong thủ tục hải quan, và đảm bảo sự chính trực của cơ quan hải quan. Những quy định này sẽ giúp các doanh nghiệp thuộc TPP, bao gồm cả các doanh nghiệp nhỏ và vừa, bằng cách khuyến khích việc đơn giản hóa thủ tục hải quan và thủ tục tại biên giới, và thúc đẩy chuỗi cung ứng khu vực. Các Bên đã nhất trí về các nguyên tắc minh bạch, bao gồm xuất bản quy định pháp luật về hải quan của mình, ban hành quy định về giải phóng hàng mà không có những trì hoãn không cần thiết, và quy định về khế ước hoặc 'thanh toán bắt buộc’ nếu cơ quan nơi hải quan vẫn chưa có quyết định về số tiền thuế hoặc phí còn nợ. Các Bên đồng ý về quy tắc xác định trước trị giá hải quan và các vấn đề khác có thể giúp doanh nghiệp lớn nhỏ có thể dự đoán trước trong thương mại. Các Bên cũng đồng ý với các quy định về xử phạt trong lĩnh vực hải quan nhằn đảm bảo các chế tài được thực hiện một cách công bằng và minh bạch. Do tầm quan trọng của vận chuyển nhanh đối với các ngành kinh doanh bao gồm cả các công ty nhỏ và vừa, các nước TPP đã đồng ý thực hiện thủ tục hải quan rút gọn cho các lô hàng nhanh. Để giúp phòng chống buôn lậu và trốn thuế, các Bên đồng ý cung cấp thông tin khi được yêu cầu để giúp đỡ nhau thực thi pháp luật hải quan tương ứng của mình.

6. Biện pháp vệ sinh dịch tễ (VSDT)

Khi xây dựng các quy định về VSDT, các Bên đã nêu mối quan tâm chung trong việc bảo đảm sự minh bạch, quy tắc không phân biệt đối xử dựa trên khoa học, và tái khẳng định quyền của các nước đối với việc bảo vệ con người và động thực vật ở nước mình. TPP được xây dựng dựa trên các quy tắc VSDT của WTO để xác định và quản lý rủi ro sao cho không có hạn chế thương mại quá mức cần thiết. Các Bên đồng ý cho phép công chúng đóng góp ý kiến về các biện pháp VSDT được đề xuất trong quá trình ra quyết định của mình, và để đảm bảo thương nhân hiểu các quy tắc mà họ cần tuân thủ. Các Bên đồng ý rằng các chương trình nhập khẩu được xây dựng dựa trên các rủi ro liên quan đến nhập khẩu, và việc kiểm tra ở khâu nhập khẩu được thực hiện mà không có những trì hoãn không cần thiết. Các Bên cũng nhất trí rằng các biện pháp khẩn cấp cần thiết để bảo vệ con người, động vật có thể được áp dụng với điều kiện nước thực hiện phải thông báo cho tất cả các Bên còn lại. Một nước khi áp dụng một biện pháp khẩn cấp sẽ rà soát cơ sở khoa học của biện pháp đó trong vòng sáu tháng và công bố kết quả cho các Bên khác theo yêu cầu. Ngoài ra, các Bên cam kết cải thiện việc trao đổi thông tin liên quan đến các yêu cầu về tương đương hoặc khu vực hóa các yêu cầu và thúc đẩy kiểm toán dựa trên các hệ thống để đánh giá tính hiệu quả về kiểm soát quy định của nước xuất khẩu. Trong nỗ lực nhanh chóng giải quyết các vấn đề VSDT phát sinh, các nước đã nhất trí thiết lập một cơ chế tham vấn giữa các chính phủ.

7. Rào cản kỹ thuật đối với thương mại (RCKTTM)

Trong quá trình xây dựng các quy định về RCKTTM, các Bên đã nhất trí về nguyên tắc minh bạch và không phân biệt đối xử trong việc phát triển các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, và quy trình đánh giá sự phù hợp, đồng thời vẫn cho phép các Bên theo đuổi những mục tiêu chính đáng của mình. Các Bên đồng ý hợp tác để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật này không tạo ra các rào cản không cần thiết đối với thương mại. Nhằm giảm chi phí cho các doanh nghiệp TPP, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, các Bên đồng ý với các quy định tạo thuận lợi cho việc chấp nhận các kết quả của quy trình đánh giá sự phù hợp từ các tổ chức đánh giá sự phù hợp của các nước TPP khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty tiếp cận các thị trường TPP.  Theo TPP, các Bên phải cho phép công chúng đóng góp ý kiến về các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, và các thủ tục đánh giá sự phù hợp được đề xuất để thông báo cho các quy trình quản lý của mình và đảm bảo thương nhân hiểu các quy định mà họ sẽ cần phải tuân thủ. Các Bên cũng sẽ đảm bảo một khoảng thời gian hợp lý giữa thời điểm công bố các quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá sự phù hợp và thời điểm có hiệu lực của các quy chuẩn, quy trình này  để doanh nghiệp có đủ thời gian để đáp ứng những yêu cầu mới. Ngoài ra, TPP có đính kèm các phụ lục liên quan đến quy định về những ngành cụ thể để thúc đẩy cách tiếp cận pháp lý chung trên toàn khu vực TPP. Các ngành này gồm mỹ phẩm, thiết bị y tế, dược phẩm, các sản phẩm công nghệ thông tin và truyền thông, rượu và thức uống chưng cất, công thức độc quyền cho các loại thực phẩm đóng gói sẵn và phụ gia thực phẩm, và các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

8. Biện pháp phòng vệ thương mại

Chương về biện pháp phòng vệ thúc đẩy tính minh bạch và quy trình chuẩn trong thủ tục tố tụng về phòng vệ thương mại thông qua việc công nhận các quy trình tốt nhất mà không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ các Bên trong khuôn khổ WTO. Chương này quy định một cơ chế tự vệ chuyển tiếp cho phép một Bên áp dụng một biện pháp tự vệ chuyển tiếp trong một khoảng thời gian nhất định khi nhập khẩu tăng do cắt giảm thuế quan theo TPP gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành công nghiệp trong nước. Những biện pháp này có thể được duy trì đến hai năm và có thể gia hạn một lần thêm một năm, nhưng phải dần dần tự do hóa nếu kéo dài hơn một năm. Các Bên áp dụng các biện pháp phòng vệ phải tuân thủ yêu cầu về thông báo và tham vấn.  Chương này cũng đưa ra các quy định yêu cầu một Bên áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp bồi thường theo thỏa thuận. Các Bên chỉ được phép áp dụng một trong những biện pháp bảo vệ được TPP cho phép đối với cùng một sản phẩm tại một thời điểm. Các Bên không được áp dụng một biện pháp tự vệ chuyển tiếp đối với bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu theo hạn ngạch thuế quan TPP, và có thể loại trừ các sản phẩm TPP ra khỏi một biện pháp phòng vệ trong khuôn khổ WTO nếu các sản phẩm nhập khẩu đó không phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại nghiêm trọng hoặc có nguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng.

9. Đầu tư

Đối với việc thiết lập các quy tắc trong lĩnh vực đầu tư, các nước tham gia hiệp định TPP phải ban hành các chính sách đầu tư và các biện pháp bảo hộ trên cơ sở không phân biệt đối xử, đảm bảo nguyên tắc cơ bản trong việc bảo vệ pháp luật. Bên cạnh đó, các nước thành viên cũng phải bảo đảm các chính phủ thành viên sẽ đạt được các mục tiêu chính sách công theo đúng qui định. Hiệp định TPP quy định các nguyên tắc bảo hộ đầu tư cơ bản tương tự như các nguyên tắc trong các hiệp định liên quan đến đầu tư khác, bao gồm nguyên tắc đối xử quốc gia; đối xử tối huệ quốc; chuẩn mực ứng xử tối thiểu trong đầu tư phù hợp với các nguyên tắc luật pháp quốc tế; nghiêm cấm các hành vi thu hồi tài sản không phục vụ cho mục đích công, không đảm bảo đúng trình tự, thủ tục quy định hoặc không thực hiện bồi thường; nghiêm cấm những yêu cầu về thực hiện như yêu cầu về hàm lượng nội địa hay nội địa hóa công nghệ; tự do chuyển giao nguồn vốn thực hiện đầu tư phù hợp với những điều khoản ngoại lệ quy định trong Hiệp định TPP nhằm đảm bảo các chính phủ thành viên được phép quản lý các dòng vốn vãng lai một cách linh hoạt thông qua các biện pháp bảo hộ tạm thời (như các biện pháp kiểm soát vốn) nhằm hạn chế hành vi chuyển vốn đầu tư trong trường hợp xảy ra khủng hoảng cán cân thanh toán hoặc những mối đe dọa, suy thoái kinh tế khác, cũng như nhằm bảo vệ tính thống nhất và ổn định của hệ thống tài chính; bảo đảm quyền tự chủ của các quốc gia thành viên trong việc bổ nhiệm các vị trí quản lý cao cấp.

Các nước thành viên của TPP phải ban hành các quy định về danh mục cấm để bảo đảm thị trường của các quốc gia luôn công khai đối với các nhà đầu tư ngoại, trừ trường hợp nhà đầu tư chấp nhận một điều khoản ngoại lệ (biện pháp không tương thích) nào đó được quy định tại một trong hai phụ lục cụ thể của từng quốc gia thành viên như sau: (1) các biện pháp hiện hành quy định nước thành viên có nghĩa vụ không áp đặt thêm bất kỳ biện pháp chế tài nào khác trong tương lai cũng như tuân thủ thỏa thuận tự do hóa trong các hoạt động đầu tư sau này, và (2) các biện pháp và chính sách quy định nước thành viên có đầy đủ quyền tự quyết trong các hoạt động trong tương lai.

Chuơng này cũng đưa ra những quy định mang tính trung lập và minh bạch về vấn đề trọng tài quốc tế để giải quyết các tranh chấp liên quan đến đầu tư cùng với các biện pháp bảo hộ nghiêm ngặt nhằm ngăn chặn các tuyên bố vi phạm và không phù hợp với quy định cũng như nhằm bảo đảm quyền của mỗi chính phủ thành viên trong việc ban hành các quy định phục vụ cho những lợi ích công cộng, bao gồm quy định về y tế, an toàn và bảo vệ môi trường. Các biện pháp bảo hộ về quy trình, thủ tục bao gồm quy định về sự minh bạch trong thủ tục khởi kiện, tham gia tòa án với tư cách bạn của tòa án (amicus curiae), tham gia toà án với tư cách không phải là Bên liên quan tranh chấp; xúc tiến quá trình xem xét các tuyên bố sai trái và thanh toán phí luật sư; minh bạch trong quy định về thủ tục xem xét một quyết định tạm thời; quy định ràng buộc để các nước TPP đạt được sự thông hiểu lẫn nhau; quy định thời hạn nộp đơn lên toà; và các nguyên tắc không cho phép Bên nguyên đơn tham gia một vụ kiện tương tự và diễn ra song song với vụ kiện mà Bên đó đang tham gia.

10. Thương mại dịch vụ xuyên biên giới

Xét thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của các dịch vụ trong quan hệ thương mại giữa các nước TPP, 12 quốc gia thành viên sẽ cùng nhau cam kết thực hiện thương mại tự do trong lĩnh vực này. Hiệp định TPP bao gồm những nghĩa vụ cốt lõi đã được thỏa thuận trong Hiệp định WTO and các hiệp định thương mại khác như nghĩa vụ đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc; gia nhập thị trường, trong đó quy định các quốc gia không phải thành viên của TPP có thể áp đặt những biện pháp chế tài việc cung cấp dịch vụ (chẳng hạn như giới hạn số lượng nhà cung cấp hoặc số lượng giao dịch) hoặc có thể yêu cầu quy định một hình thái tư cách pháp nhân đặc trưng hoặc liên doanh; và sự hiện diện của các yêu tố quốc nội, trong đó quy định không một quốc gia nào có thể yêu cầu nhà cung cấp từ quốc gia khác thành lập văn phòng hay chi nhánh, hoặc phải là đối tượng cư trú trong lãnh thổ của mỗi quốc gia để cung cấp dịch vụ. Các nước thành viên của TPP có nghĩa vụ ban hành các danh mục cấm để bảo đảm thị trường của các quốc gia luôn công khai đối với các nhà đầu tư ngoại, trừ trường hợp nhà đầu tư chấp nhận một điều khoản ngoại lệ (biện pháp không tương thích) nào đó được quy định tại một trong hai phụ lục cụ thể của từng quốc gia như sau: (1) các biện pháp hiện hành quy định các nước tham gia phải có nghĩa vụ không áp đặt thêm bất kỳ biện pháp chế tài nào khác trong tương lai cũng như tuân thủ thỏa thuận tự do hóa trong các hoạt động sau này, và (2) các lĩnh vực và chính sách quy định quốc gia thành viên có đầy đủ quyền tự quyết trong các hoạt động trong tương lai.

Các nước thành viên của TPP cũng sẽ thống nhất thực hiện các biện pháp áp dụng chung trên cơ sở đảm bảo tính hợp lý, khách quan và không thiên vị; chấp nhận các điều kiện về tính minh bạch trong triển khai các quy định liên quan đến các dịch vụ mới. Các quyền lợi nêu ra trong chương này có thể sẽ bị từ chối nhằm bảo vệ cho các công ty và nhà cung cấp dịch vụ do những Bên không phải là thành viên của TPP sở hữu có một vài giao dịch mà các nước TPP ngăn cấm thực hiện. Các nước TPP nhất trí thừa nhận việc chuyển vốn liên quan đến việc cung cấp dịch vụ. Ngoài ra, chương này bao gồm phần phụ lục về các dịch vụ chuyên môn nhằm khuyến khích hoạt động hợp tác về công nhận qua việc cấp giấy phép và các vấn đề chính sách khác cũng như phụ lục về dịch vụ chuyển phát nhanh.

11. Dịch vụ tài chính

Chương dịch vụ tài chính của TPP cung cấp nhiều cơ hội tiếp cận thị trường qua biên giới và đầu tư quan trọng nhưng vẫn đảm bảo rằng các nước TPP vẫn có đủ năng lực điều hành thị trường và các tổ chức tài chính cũng như thực hiện các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp khủng hoảng. Chương này bao gồm các nghĩa vụ cốt lõi tìm thấy trong các hiệp định thương mại khác, bao gồm đối xử quốc gia; đối xử tối huệ quốc; tiếp cận thị trường; và một vài quy định cụ thể của chương Đầu tư bao gồm Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu. Chương này cũng quy định việc cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới cho một nước TPP từ một nhà cung cấp của một nước TPP khác mà không yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ phải thành lập cơ sở hoạt động tại một nước khác để bán các dịch vụ của mình nhưng phải phù hợp với quy định đăng ký hoặc ủy quyền cho các nhà cung cấp dịch vụ tài chính qua biên giới của một nước TPP khác nhằm đảm bảo cho công tác điều hành và giám sát phù hợp. Một nhà cung cấp dịch vụ của một nước TPP có thể cung cấp một dịch vụ tài chính mới tại thị trường của nước TPP khác nếu các công ty trong nước hoạt động tại thị trường này được phép cung cấp dịch vụ đó. Các nước thành viên của TPP phải ban hành quy định trường hợp ngoại lệ đối với một số quy tắc trong hai phụ lục đính kèm theo TPP phù hợp với điều kiện của từng nước: (1) các biện pháp hiện hành quy định Bên tham gia phải có nghĩa vụ không áp đặt thêm bất kỳ biện pháp chế tài nào khác trong tương lại cũng như tuân thủ thỏa thuận tự do hóa trong các hoạt động sau này, và (2) các biện pháp và chính sách quy định Bên tham gia có đầy đủ quyền tự quyết trong tương lai.

Các nước TPP cũng đặt ra các nguyên tắc công nhận chính thức tầm quan trọng của các quy trình thủ tục pháp lý nhằm khuyến khích việc cung cấp các dịch vụ bảo hiểm của các nhà cung cấp được cấp phép và các quy trình để đạt được mục tiêu này.  Ngoài ra, Hiệp định TPP cũng đề cập đến các cam kết cụ thể về quản lý danh mục đầu tư, các dịch vụ thẻ thanh toán điện tử và chuyển giao thông tin để phục vụ mục đích xử lý dữ liệu.

Chương về các dịch vụ tài chính cũng qui định cách thức giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến một số điều khoản thông qua quy định trung lập và minh bạch về trọng tài đầu tư.  Chương này cũng đưa ra những điều khoản cụ thể về các tranh chấp trong đầu tư liên quan đến tiêu chuẩn đối xử tối thiểu và các điều khoản yêu cầu các trọng tài phải có chuyên môn về các dịch vụ tài chính và các điều khoản về cơ chế đối xử đặc biệt giữa các quốc gia thành viên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng các quy định ngoại lệ mà từng quốc gia thành viên cần xem xét một cách thận trọng và các quy định ngoại lệ được đề cập trong chương này trong trường hợp phát sinh tranh chấp trong đầu tư.      Cuối cùng, chương này cũng đề cập đến các trường hợp ngoại lệ trong việc bảo hộ quyền tự chủ của các nhà quản lý tài chính của các nước TPP, trong đó họ sẽ được quyền chủ động thực hiện các biện pháp củng cố tính ổn định tài chính và tính thống nhất của hệ thống tài chính của mình, bao gồm những quy định ngoại lệ mà các quốc gia thành viên xem xét một cách thận trọng và những quy định ngoại lệ về các biện pháp không phân biệt đối xử trong quá trình thiết lập và thực thi các chính sách tiền tệ hay các chính sách khác.

12. Nhập cảnh tạm thời cho doanh nhân

Chương về nhập cảnh tạm thời cho doanh nhân khuyến khích các cơ quan có thẩm quyền của các nước TPP cung cấp thông tin về hồ sơ đăng ký nhập cảnh tạm thời nhằm đảm bảo phí đăng ký ở mức hợp lý và đưa ra các quyết định về hồ sơ đăng ký và thông báo người nộp đơn đăng ký về kết quả giải quyết hồ sơ trong thời gian sớm nhất có thể.  Các nước TPP thỏa thuận với nhau để đảm bảo thông tin liên quan đến các điều kiện nhập cảnh tạm thời luôn được công khai đến với toàn dân, trong đó bao gồm việc công bố thông tin sớm nhất hay nếu được thì có thể công bố qua mạng, song song đó phải cung cấp các tài liệu rõ ràng, dễ hiểu. Các nước TPP thỏa thuận tiếp tục hợp tác về các vấn đề nhập cảnh tạm thời như hợp tác trong quá trình giải quyết hồ sơ xin thị thực. Hầu hết tất cả các nước TPP đã tham gia cam kết cho phép nhập cảnh của các doanh nhân của nước thành viên khác tùy thuộc vào các phụ lục của riêng từng nước.

13. Viễn thông

Các nước TPP đều bày tỏ quan tâm đến việc đảm bảo tính hiệu quả và tin cậy của mạng viễn thông của mình. Các mạng này đóng vai trò quan trọng đối với các công ty cung cấp dịch vụ bất kể quy mô hoạt động lớn hay nhỏ. Các nhà cung cấp dịch vụ di động cũng thuộc đối tượng điều chỉnh của các quy tắc truy cập mạng cạnh tranh hơn được thỏa thuận trong Hiệp định TPP. Các nước TPP cam kết đảm bảo các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông lớn ở mỗi quốc gia sẽ cung cấp các dịch vụ kết nối, thuê dây dẫn truyền của nhau, cho thuê chỗ đặt máy chủ và được phép sử dụng cột phát tín hiệu và các trang thiết bị khác theo đúng với các điều khoản liên quan và đúng thời điểm. Các quốc gia cũng cam kết là khi được cấp giấy phép thì mỗi quốc gia sẽ đảm bảo các quy trình và quy định pháp lý của mình không phân biệt đối xử với bất kỳ công nghệ cụ thể nào. Bên cạnh, họ cũng cam kết thực hiện các quy trình phân bổ và sử dụng các nguồn tài nguyên viễn thông độc đáo của riêng mình, bao gồm tần số, số hiệu và quyền ưu tiên trên cơ sở khách quan, đúng lúc, minh bạch và không phân biệt đối xử. Các nước TPP công nhận tầm quan trọng của các tác nhân thị trường và các thỏa thuận thương mại trong lĩnh vực viễn thông.  Các quốc gia cũng thỏa thuận sẽ hành động thao các bước nhằm khuyến khích cạnh tranh trong các dịch vụ chuyển vùng di động quốc tế và tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các giải pháp thay thế cho dịch vụ chuyển vùng quốc tế.  Các nước TPP cũng thống nhất rằng trong trường hợp một nước thành viên quy định mức thuế suất áp dụng cho việc bán buôn các dịch vụ chuyển vùng di động quốc tế, nước đó sẽ cho phép các nhà khai thác dịch vụ của các nước TPP không quy định mức thuế suất này có được cơ hội nhận được ưu đãi khi áp dụng mức thuế thấp hơn.

14. Thương mại điện tử

Trong chương về thương mại điện tử, các nước TPP cam kết bảo đảm luồng thông tin và dữ liệu mang tính toàn cầu được lưu hành một cách tự do giúp phát triển nền kinh tế Internet và kỹ thuật số đáp ứng các mục tiêu chính sách công liên quan như chính sách bảo mật thông tin cá nhân. 12 nước TPP cũng thống nhất không ràng buộc các công ty của các nước TPP phải xây dựng các trung tâm dữ liệu như một điều kiện cần thiết để hoạt động trong thị trường của nhau cũng như không yêu cầu phải có mã nguồn phần mềm khi cần chuyển giao hay truy cập. Chương này cũng nghiêm cấm việc áp đặt các loại thuế xuất nhập khẩu đối với việc truyền tin điện tử và ngăn không cho các nước TPP ưu đãi cho các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp sản phẩm truyền tin điện tử nội địa bằng cách áp dụng các biện pháp mang tính phân biệt đối xử hay khóa chặn hoàn toàn việc truyền tin. Nhằm mục đích bảo vệ người tiêu dùng, các nước TPP thống nhất thông qua và duy trì các điều luật liên quan đến các hoạt động giả mạo, gian dối trên mạng cũng như đảm bảo các biện pháp bảo vệ tính riêng tư và các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng khác có thể được áp dụng vào thị trường của các nước TPP. Các nước TPP cũng phải đưa ra các biện pháp nhằm chấm dứt các tin nhắn rác. Nhằm mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử, chương này bao gồm các điều khoản khuyến khích các nước TPP phát triển hình thức giao dịch thương mại giữa các doanh nghiệp và chính phủ như các hình thức hải quan điện tử cũng như đưa ra các quy định về chứng thực và chữ ký điện tử trong các giao dịch thương mại. Một số nghĩa vụ trong chương này phải phù hợp với các biện pháp không tương thích của từng nước thành viên TPP. Tất cả 12 nước TPP đồng ý phối hợp cùng nhau để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tận dụng lợi thế thương mại điện tử. Chương này cũng khuyến khích sự hợp tác về các quy chế liên quan đến bảo mật thông tin cá nhân, bảo vệ người tiêu dùng tham gia thương mại qua mạng, các mối đe dọa đến an toàn thông tin và năng lực bảo vệ an toàn thông tin.

15. Mua sắm công

Các nước TPP chia sẽ lợi ích chung trong việc tiếp cận thị trường mua sắm công của nhau thông qua những qui định minh bạch, có thể dự đoán, và không phân biệt đối xử. Trong chương về mua sắm công, các nước TPP sẽ cam kết những nguyên tắc quan trọng về đối xử và không phân biệt đối xử giữa các quốc gia. Các nước TPP cũng thống nhất việc công bố kịp thời các thông tin liên quan nhằm giúp cho các nhà cung cấp có đủ thời gian nhận hồ sơ mời thầu và tham gia dự thầu, tiếp nhận và xử lý hồ sơ dự thầu một cách công bằng và không thiên vị, đồng thời bảo mật thông tin trong đó. Ngoài ra, các nước TPP thỏa thuận sử dụng thông số kỹ thuật một cách công bằng và khách quan, chỉ lựa chọn nhà thầu (ký hợp đồng) dựa trên các tiêu chí đánh giá được ghi trong các thông báo và hồ sơ mời thầu, và xây dựng các thủ tục pháp lý phù hợp để chất vấn hoặc xem xét những kiến nghị về việc lựa chọn nhà thầu. Mỗi nước TPP đồng ý đưa ra danh sách các tổ chức và hoạt động  được điều chỉnh trong chương này (trong phụ lục đính kèm).

16. Chính sách cạnh tranh

Các nước TPP có một mối quan tâm chung trong việc đảm bảo một khuôn khổ cạnh tranh công bằng trong khu vực thông qua các qui định đòi hỏi các nước TPP phải duy trì các chế độ pháp lý ngăn cấm hành vi kinh doanh phi cạnh tranh cũng như các hoạt động thương mại gian lận và lừa đảo làm tổn hại đến người tiêu dùng.

Các nước TPP đồng ý áp dụng hoặc duy trì luật cạnh tranh nhằm ngăn cấm hành vi kinh doanh phi cạnh tranh và áp dụng luật này vào tất cả các hoạt động thương mại trong lãnh thổ của mình. Để đảm bảo các luật này được thực thi một cách hiệu quả, các nước TPP đồng ý thiết lập hoặc duy trì các cơ quan chịu trách nhiệm thi hành luật cạnh tranh quốc gia, áp dụng hoặc duy trì pháp luật hoặc qui định chống lại các hoạt động thương mại gian lận và lừa đảo làm tổn hại đến khách hàng. Các nước TPP cũng đồng ý hợp tác về những vấn đề vì lợi ích đôi bên liên quan đến các hoạt động cạnh tranh nếu phù hợp.

Ngoài ra, các nước TPP đồng ý hợp tác trong chính sách cạnh tranh và thi hành luật cạnh tranh thông qua việc thông báo, tư vấn và trao đổi thông tin. Chương này không thuộc các điều khoản giải quyết tranh chấp của TPP nhưng các nước TPP có thể tham khảo những vấn đề mình quan tâm liên quan đến chương này.

17. Các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị độc quyền

Tất cả các nước TPP đều có doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò cung cấp dịch vụ công và các hoạt động khác nhưng các nước cũng nhận ra lợi ích của việc thống nhất một khung pháp lý về các doanh nghiệp nhà nước. Chương này điều chỉnh những doanh nghiệp nhà nước lớn tham gia vào các hoạt động thương mại. Các bên cùng đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhà nước của mình sẽ thực hiện việc mua bán trên cơ sở các xem xét thương mại trừ khi việc làm đó không nhất quán với bất kỳ một nhiệm vụ nào mà một doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động theo đó. Các nước TPP còn thỏa thuận sẽ đảm bảo các doanh nghiệp nhà nước hoặc những đơn vị độc quyền của mình không phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp, hàng hóa và dịch vụ của các nước còn lại. Các nước TPP đồng ý trao cho tòa án quyền tài phán đối với các hoạt động thương mại của các DNNN nước ngoài trên lãnh thổ của mình, và bảo đảm rằng các cơ quan hành chính quản lý của các DNNN và doanh nghiệp tư nhân cũng làm như vậy một cách công bằng. Các Nước TPP đồng ý sẽ không tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với lợi ích của các nước TPP khác khi cung cấp hỗ trợ phi thương mại cho các DNNN, hay làm tổn hại đến ngành công nghiệp trong nước của thành viên khác thông qua việc cung cấp các hỗ trợ phi thương mại cho DNNN sản xuất và bán hàng hóa trên lãnh thổ nước đó.  Nước TPP đồng ý chia sẻ danh sách các DNNN của mình với các nước TPP khác và khi được yêu cầu sẽ cung cấp các thông tin bổ sung về mức độ sở hữu hoặc kiểm soát của chính phủ và những hỗ trợ phi thương mại cung cấp cho các DNNN. Chương này cũng quy định về các trường hợp ngoại lệ , ví dụ trong trường hợp khẩn cấp quốc gia hoặc toàn cầu, cũng như những ngoại lệ cụ thể của từng nước được nêu cụ theể trong các phụ lục kèm theo.

18. Sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ trong TPP bao gồm bằng sáng chế, thương hiệu, bản quyền, thiết kế công nghiệp, chỉ dẫn địa lý, bí mật thương mại, các hình thức sở hữu trí tuệ khác, và thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như các lĩnh vực mà các nước TPP đồng ý hợp tác. Chương này sẽ giúp cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm, đăng ký và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong những thị trường mới vốn đặc biệt quan trọng cho các doanh nghiệp nhỏ.

Chương này cũng thiết lập những chuẩn mực cho các bằng sáng chế dựa trên Hiệp định WTO về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ của  (TRIPS Agreement) và những thông lệ quốc tế tốt nhất. Về thương hiệu, nó giúp bảo vệ các nhãn hiệu và những biểu tượng đặc thù khác mà các doanh nghiệp và cá nhân sử dụng cho hàng hóa của mình trên thị trường. Chương này đòi hỏi sự minh bạch nhất định và các quy trình bảo vệ phù hợp liên quan đến việc bảo vệ những chỉ dẫn địa lý mới kể cả những chỉ dẫn địa lý được công nhận hoặc được bảo vệ thông qua các điều ước quốc tế. Việc bảo vệ này bao gồm cả việc phân định rõ mối quan hệ giữa thương hiệu và chỉ dẫn địa lý, cũng như việc bảo vệ việc sử dụng những thuật ngữ thường dùng.

Ngoài ra, chương này còn có những điều khoản liên quan đến dược phẩm thúc đẩy sự phát triển các loại thuốc cứu sinh mới cũng như việc phổ biến các thuốc gốc (generic medicines), có tính đến thời gian từng thành viên cần để đáp ứng được các tiêu chuẩn này. Chương này có cả những cam kết liên quan đến việc bảo vệ kết quả thử nghiệm và những dữ liệu khác đã được đệ trình để xin cấp phép lưu hành một sản phẩm dược hoặc hóa chất nông nghiệp mới .  Chương này còn tái khẳng định cam kết của các bên về Tuyên bố của WTO năm 2001 về Hiệp Ước TRIPS và Sức Khỏe cộng đồng, và xác nhận một cách cụ thể rằng các bên không bị ngăn cản sử dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bao gồm cả trong trường hợp có những đại dịch như HIV/AIDS.

Về bản quyền, chương sở hữu trí tuệ xây dựng những cam kết liên quan đến việc bảo hộ đối với các tác phẩm và công trình như bài hát, phim, sách, và phần mềm, và bao gồm những điều khoản cân đối và hiệu quả về các biện pháp bảo vệ công nghệ và thông tin quản lý bản quyền.

Chương này còn bao gồm một nghĩa vụ cho tất cả các nước TPP tiếp tục cố gắng đạt được sự cân bằng trong hệ thống bản quyền thông qua  những ngoại lệ và hạn chế, bao gồm cả những nội dung trong môi trường số, và các biện pháp khác. Chương này yêu cầu các thành viên phải thông qua hoặc duy trì một khuôn khổ về vùng an toàn cho các nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP). Các nghĩa vụ này không cho phép các nước TPP tạo ra các vùng an toàn ngẫu nhiên để giám sát hệ thống của các IPS tìm kiếm nội dung vi phạm.

Cuối cùng, các nước TPP đồng ý cung cấp các hệ thống chế tài mạnh, bao gồm cả những quy trình thủ tục dân sự, các biện pháp tạm thời, các biện phảp quản lý biên giới, các thủ tục và chế tài hình sự đối với tội giả mạo thương hiệu mang tính thương mại và vi phạm bản quyền hoặc các quyền liên quan. Chương này yêu cầu các nước TPP cung cấp các công cụ hợp pháp để ngăn ngừa việc lạm dụng các bí mật thương mại, xây dựng các thủ tục và xử phạt hình sự đối với tội phạm trộm cắp bí mật thương mại, bao gồm cả trộm cắp qua mạng hoặc quay phim.

19. Lao động

Tất cả các nước TPP đều là thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và công nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy các quyền lao động được quốc tế công nhận. Trong TPP, các thành viên đồng ý thông qua và duy trì trong luật và thông lệ của mình các quyền cơ bản của người lao động như được thừa nhận trong Tuyên bố 1998 của ILO, đó là quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể; xóa bỏ lao động cưỡng bức; xóa bỏ lao động trẻ em và cấm các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất; và loại bỏ sự phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp. Các thành viên cũng đồng ý có luật quy định mức lương tối thiểu, số giờ làm việc, an toàn và sức khỏe nghề nghiệp. Những cam kết này áp dụng cả với các khu chế xuất. Mười hai nước TPP đồng ý không miễn trừ hoặc giảm hiệu lực của pháp luật quy định việc thực thi các quyền cơ bản của người lao động để thu hút thương mại hoặc đầu tư, và thực thi một cách hiệu quả pháp luật liên quan đến lao động một cách bền vững hoặc đều đặn có thể có ảnh hưởng tới thương mại hoặc đầu tư giữa các nước TPP. Bên cạnh các cam kết của các nước TPP nhằm xóa bỏ lao động cưỡng bức trong nước mình, chương Lao động còn bao gồm những cam kết không khuyến khích việc nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức hoặc lao động trẻ em, hoặc sử dụng nguyên liệu đầu vào được sản xuất ra bằng lao động cưỡng bức, bất kể nước xuất xứ có phải là nước TPP hay không. Mỗi nước TPP đều cam kết bảo đảm khả năng tiếp cận với hệ thống thủ tục hành chính và tư pháp công bằng, không thiên vị và minh bạch và sẽ cung cấp các biện pháp khắc phục hiệu quả những vi phạm luật lao động của mình. Các thành viên cũng đồng ý cho phép sự tham gia của công chúng vào việc thực thi chương Lao động, bao gồm cả việc xây dựng cơ chế tiếp nhận ý kiến đóng góp của công chúng.

Các cam kết tại chương này phải tuân thủ các thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại chương Giải quyết tranh chấp. Để thúc đẩy việc giải quyết nhanh các vấn đề về lao động giữa các nước TPP, chương Lao động còn xây dựng cơ chế đối thoại mà các thành viên có thể lựa chọn áp dụng để giải quyết mọi vấn đề về lao động giữa các thành viên. Cơ chế đối thoại này cho phép xem xét nhanh các vấn đề và cho phép các thành viên cùng nhất trí với chương trình hành động để xử lý vấn đề. Chương Lao động tạo ra một cơ chế hợp tác về các vấn đề về lao động, bao gồm cả các cơ hội để các nhà đầu tư xác định phạm vi hợp tác và tham gia vào các hoạt động hợp tác nều thấy phù hợp và cùng thống nhất.

20. Môi trường

Với tư cách là các quốc gia chiếm một phần đáng kể về dân số, động vật hoang dã, thực vật và sinh vật biển trên thế giới, các nước TPP cùng ký một bản cam kết bền vững về việc bảo vệ và bảo tồn môi trường, bao gồm hợp tác trong việc giải quyết các thách thức về môi trường như ô nhiễm môi trường, buôn bán trái phép động vật hoang dã, khai thác gỗ bất hợp pháp và trong việc bảo vệ môi trường biển. 12 nước nhất trí thực thi có hiệu quả pháp luật về môi trường của nước mình và không đi ngược lại với hệ thống pháp luật về môi trường để khuyến khích thương mại và đầu tư.  Các nước cũng đồng ý thực hiện nghĩa vụ của mình theo Công ước về Buôn bán quốc tế các loài hoang dã động thực vật (CITES), có biện pháp đối phó và hợp tác ngăn chặn buôn bán động trái phép vật hoang dã.  Ngoài ra, các nước thống nhất đẩy mạnh quản lý rừng bền vững và để bảo vệ và bảo tồn động thực vật hoang dã và thực vật mà các quốc gia đã xác định là đang gặp nguy hiểm trong lãnh thổ của mình, kể cả các biện pháp để bảo tồn tính toàn vẹn sinh thái của khu vực tự nhiên được bảo vệ đặc biệt, chẳng hạn như vùng đầm lầy. Với nỗ lực để bảo vệ đại dương chung của mình, các nước TPP thống nhất về quản lý bền vững nghề cá, thúc đẩy bảo tồn các loài sinh vật biển quan trọng, bao gồm loài cá mập, để chống lại việc đánh bắt cá trái phép và để ngăn chặn một số trợ cấp nghề cá có tác động nguy hại nhất, tiếp tay cho các hoạt động đánh bắt cá trái phép, không được báo cáo và không được quy định, tạo ra ảnh hưởng tiêu cực dẫn đến nguồn cá bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt. Các nước cũng đồng ý nâng cao tính minh bạch liên quan đến các chương trình trợ cấp nêu trên và nỗ lực hết mình để không đưa ra các khoản trợ cấp mới cho việc khai thác quá mức hoặc quá tải nguồn cá.

Các nước TPP cũng thỏa thuận bảo vệ môi trường biển từ ô nhiễm tàu thủy và bảo vệ tầng ô zôn khỏi các chất phá hủy ozone.  Các nước xác nhận lại cam kết của mình trong việc thực hiện các Hiệp định đa phương về môi trường (MEAs) mà mình gia nhập.  Các nước cam kết minh bạch trong việc đưa ra quyết định, thực hiện và thi hành các quyết định về môi trường.  Bên cạnh đó, các nước thỏa thuận tạo cơ hội cho cộng đồng đóng góp vào việc thực hiện chương về Môi trường, kể cả thông qua việc đệ trình và các buổi họp công khai của Ủy ban Môi trường để giám sát việc thực hiện của nội dung chương này. Chương này cũng phải tuân thủ quy trình giải quyết tranh chấp trong chương Giải quyết tranh chấp.  Các nước cũng nhất trí khuyến khích các sáng kiến môi trường tự nguyện, chẳng hạn như các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Cuối cùng, các nước cam kết hợp tác giải quyết các vấn đề quan tâm chung , kể cả trong các lĩnh vực bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, và quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế ít phát thải và chóng phục hồi.

21. Nâng cao năng lực và hợp tác

Các nền kinh tế của 12 nước tham gia TPP rất đa dạng. Tất cả các nước công nhận rằng các nước TPP kém phát triển hơn có thể phải đối mặt với thách thức trong việc thực hiện Hiệp định và trong việc tận dụng các cơ hội mà Hiệp định tạo ra. Đề giải quyết các thách thức trên, chương về Nâng cao năng lực và hợp tác thiết lập một Ủy ban Nâng cao năng lực và hợp tác nhằm xác định và xem xét các khu vực  có tiềm năng cho những nỗ lực hợp tác và nâng cao năng lực. Hoạt động của các nước là trên cơ sở đồng thuận và tùy thuộc vào nguồn tài nguyên sẵn có. Ủy ban này sẽ tạo thuận lợi cho việc trao đổi thông tin để hỗ trợ theo yêu cầu liên quan tới nâng cao năng lực và hợp tác.

22. Tạo thuận lợi trong kinh doanh và năng lực cạnh tranh

Tạo thuận lợi trong kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhằm giúp cho TPP đạt được tiền năng của mình để cải thiện khả năng cạnh tranh của các nước tham gia và toàn bộ khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Chương này tạo ra cơ chế chính thức để xem xét tác động của TPP lên khả năng cạnh tranh của các nước thông qua các cuộc đối thoại giựa chính phủ các nước và giữa chính phủ, doanh nghiệp, và xã hội dân sự, đặc biệt tập trung đào sâu chuỗi cung ứng khu vực, đánh giá tiến độ, tận dụng cơ hội mới và giải quyết tất cả thách thức có thể nảy sinh một khi TPP có hiệu lực. Cơ chế này bao gồm cả Ủy ban Tạo thuận lợi kinh doanh và năng lực cạnh tranh có nhiệm vụ gặp gỡ thường xuyên để xem xét tác động của TPP lên khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc gia và hội nhập kinh tế khu vực. Ủy ban sẽ xem xét lời khuyên và khuyến nghị từ các nhà đầu tư của các nước về cách thức TPP có thể tiếp tục tăng cường khả năng cạnh tranh, bao gồm tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp vi mô, doanh nghiệp nhỏ và vừa trong chuỗi cung ứng khu vực. Chương này cũng thiết lập một khuôn khổ cơ bản cho Ủy ban để đánh giá hiệu suất của chuỗi cung ứng theo Hiệp định này, bao gồm cách để thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp các nước và chuyên gia .

23. Phát triển

Các nước TPP tìm cách đảm bảo rằng TPP sẽ là một mô hình cao cấp cho thương mại và hội nhập kinh tế, và đặc biệt để đảm bảo rằng tất cả các nước TPP có thể có được những lợi ích đầy đủ của TPP hoàn toàn có thể thực hiện các cam kết của mình và trở nên phồn thịnh hơn với thị trường mạnh mẽ. Chương Phát triển bao gồm ba lĩnh vực cụ thể được xem xét cho công việc hợp tác một khi TPP có hiệu lực đối với mỗi nước: (1) tăng trưởng kinh tế trên diện rộng, bao gồm phát triển bền vững, xóa đói giảm nghèo và sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ; (2) phụ nữ và việc tăng trưởng kinh tế , bao gồm cả việc giúp phụ nữ nâng cao năng lực và kỹ năng, tăng cường tiếp cận của phụ nữ với các thị trường, đạt được công nghệ và tài chính, thiết lập mạng lưới lãnh đạo nữ, và xác định các thông lệ tốt nhất trong sự linh hoạt tại nơi làm việc; và (3) giáo dục, khoa học và công nghệ, nghiên cứu và đổi mới. Chương này thiết lập một Ủy ban Phát triển TPPcó nhiệm vụ họp thường xuyên nhằm thúc đẩy việc hợp tác tự nguyện trong các lĩnh vực này và các cơ hội mới.

24. Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Các nước TPP có mối quan tâm chung tới việc thúc đẩy sự tham gia của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thương mại nhằm đảm bảo rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa chia sẻ những lợi ích của TPP.  Cùng với các cam kết trong các chương khác của TPP về tiếp cận thị trường, giảm công việc giấy tờ, truy cập Internet, thuận lợi thương mại, chuyển phát nhanh, v.v,…, nội dung chương về các Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm các cam kết của mỗi nước TPP để tạo ra một trang web thân thiện với người dùng, nhằm vào các doanh nghiệp nhỏ và vừa để cung cấp thông tin TPP có thể dễ dàng truy cập và cách mà các công ty nhỏ có thể tận dụng nó, bao gồm mô tả các quy định của TPP có liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa; các quy định và thủ tục liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; quy định đầu tư nước ngoài; thủ tục đăng ký kinh doanh; quy định việc làm; và thông tin thuế. Ngoài ra, chương này sẽ thiết lập một Ủy ban Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tổ chức này sẽ gặp gỡ thường xuyên để xem xét khả năng phục vụ doanh nghiệp nhỏ và vừa của TPP, xem xét cách để nâng cao hơn nữa lợi ích của nó, và giám sát việc hoạt động nâng cao năng lực và hợp tác để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua tư vấn xuất khẩu, hỗ trợ, và các chương trình đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; chia sẻ thông tin; tài trợ thương mại và các hoạt động khác.

25. Sự đồng nhất về quy định

Chương sự đồng nhất về quy định sẽ giúp đảm bảo một môi trường pháp lý mở, công bằng, và có thể dự đoán cho các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường TPP bằng cách khuyến khích sự minh bạch, công bằng, và phối hợp giữa các chính phủ để đạt được một cách tiếp cận quản lý chặt chẽ. Chương này nhằm mục đích tạo điều kiện cho sự chặt chẽ của các quy định ở mỗi nước TPP bằng cách thúc đẩy cơ chế tham vấn liên ngành có hiệu quả và sự phối hợp của các cơ quan. Nó khuyến khích các thông lệ quản lý tốt được chấp nhận rộng rãi, chẳng hạn như đánh giá tác động của các biện pháp quản lý đề xuất, truyền thông trong những căn cứ để lựa chọn các giải pháp thay thế quy định lựa chọn và bản chất của các quy định đang được ban hành. Chương này cũng bao gồm các điều khoản để đảm bảo các quy định được viết rõ ràng và chính xác, công chúng có thể tiếp cận thông tin về các biện pháp quản lý mới ( trực tuyến nếu có thể), và các biện pháp quản lý hiện tại theo định kỳ được xem xét để xác định xem liệu các biện pháp này vẫn là phương tiện hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu mong muốn hay không.  Ngoài ra, chương này khuyến khích các nước TPP cung cấp một thông báo công khai hàng năm về tất cả các biện pháp quản lý dự kiến sẽ áp dụng. Hướng tới những mục tiêu này, chương này thiết lập một Ủy ban có nhiệm vụ cung cấp cho các nước TPP, doanh nghiệp và xã hội dân sự cơ hội liên tục để báo cáo về việc thực hiện, chia sẻ kinh nghiệm về các thông lệ tốt nhất, và xem xét các khu vực tiềm năng hợp tác. Chương này, dưới bất kì hình thức nào, không  ảnh hưởng đến quyền lợi của các nước TPP trong việc đưa ra quy định về sức khỏe cộng đồng, an toàn, an ninh, lợi ích công cộng và các lý do khác.

26. Sự minh bạch và công tác chống tham nhũng

Chương về Sự minh bạch và công tác chống tham nhũng trong TPP nhằm mục đích thúc đẩy mục tiêu chung của tất cả các nước TPP trong việc tăng cường quản trị tốt và giải quyết những tác động tiêu cực của việc hối lộ và tham nhũng có thể gây nên cho nền kinh tế của các nước. Theo chương này, các nước TPP cần phải đảm bảo rằng các luật, quy định và các quyết định hành chính áp dụng chung đối với bất kỳ vấn đề nào quy định trong TPP được công bố công khai và, ở mức độ có thể, các quy định có khả năng ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư giữa các nước có thể được nhận thấy và nhận xét. Các nước TPP thỏa thuận đảm bảo các quyền lợi theo đúng thủ tục cho các nhà đầu tư của các nước TPP với các tranh chấp hành chính, bao gồm việc xem xét nhanh chóng thông qua tòa án hoặc thủ tục công bằng về tư pháp hoặc hành chính. Các nước cũng đồng ý thông qua hoặc duy trì pháp luật về hình sự hóa các đề nghị, hoặc yêu cầu, các lợi ích không chính đáng của công chức, cũng như các hành vi tham nhũng ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư quốc tế. Các nước cũng cam kết thực thi hiệu quả các luật và các quy định của các nước về chống tham nhũng. Ngoài ra, các nước đồng ý nỗ lực áp dụng hoặc duy trì các quy tắc hoặc các tiêu chuẩn về ứng xử của công chức nước mình, cũng như các biện pháp để xác định và quản lý xung đột lợi ích nhằm tăng cường đào tạo công chức, thực hiện các bước để ngăn chặn việc  tặng quà, khuyến khích việc báo cáo các hành vi tham nhũng và quy định các biện pháp kỷ luật hoặc các biện pháp khác đối với công chức tham gia vào các hành vi tham nhũng. Trong một phụ lục của chương này, các nước TPP cũng đồng ý với các điều khoản thúc đẩy tính minh bạch và công bằng về thủ tục liên quan đến việc niêm yết và bồi hoàn cho các sản phẩm dược phẩm hoặc các thiết bị y tế. Các cam kết trong phụ lục này không phải tuân thủ quy trình giải quyết tranh chấp.

27. Các điều khoản về hành chính và thể chế

Chương về Các điều khoản hành chính và thể chế xây dựng một khuôn khổ thể chế theo đó các nước TPP sẽ đánh giá và hướng dẫn việc thi hành hoặc hoạt động của TPP, cụ thể là thông qua việc thành lập Ủy ban Quan hệ Đối tác xuyên Thái Bình Dương, bao gồm các Bộ trưởng hoặc các quan chức cấp cao, để giám sát việc thực hiện hoặc hoạt động của Hiệp định và định hướng sự phát triển tương lai của nó. Định kỳ, Ủy ban này sẽ xem xét các mối quan hệ kinh tế và quan hệ đối tác giữa các nước TPP để đảm bảo nội dung Hiệp định luôn giữ mối liên kết với những thách thức thương mại và đầu tư mà các nước TPP phải đối mặt. Mỗi Bên phải chỉ định một cơ quan đầu mối duy trì thông tin liên lạc giữa các nước TPP, và tạo ra một cơ chế để những Bên có thời hạn chuyển tiếp cụ thể đối với một nghĩa vụ nào đó có thể báo cáo về kế hoạch và lộ trình thực hiện nghĩa vụ. Điều này đảm bảo các nước TPP thực hiện nghĩa vụ một cách minh bạch hơn.

28. Giải quyết tranh chấp

Chương về Giải quyết tranh chấp nhằm cho giúp đỡ các nước TPP nhanh chóng giải quyết các tranh chấp giữa họ trong quá trình thực hiện Hiệp định TPP. Các nước TPP sẽ thực hiện mọi nỗ lực để giải quyết tranh chấp thông qua hợp tác, tham vấn và những cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế phù hợp khác. Khi những nỗ lực trên thất bại, tranh chấp được giải quyết thông qua các Ban hội thẩm công bằng. Cơ chế giải quyết tranh chấp quy định trong Chương này áp dụng cho toàn bộ Hiệp định, ngoại trừ một số trường hợp cụ thể. Công chúng của mỗi nước TPP có thể theo dõi tiến trình tố tụng vì tất cả các đệ trình, các phiên điều trần (trừ khi các nước TPP có thỏa thuận khác) đến báo cáo cuối cùng của ban hội thẩm đều được công khai với công chúng. Các Ban hội thẩm sẽ xem xét các yêu cầu cung cấp quan điểm liên quan đến vụ tranh chấp từ các tổ chức phi chính phủ nằm trong lãnh thổ của nước có tranh chấp.

Nếu quá trình tham vấn thất bại, các nước TPP có quyền yêu cầu thành lập một ban hội thẩm trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tham vấn hoặc trong vòng 30 ngày nếu tranh chấp có liên quan đến hàng hóa dễ hỏng. Ban hội thẩm gồm 3 chuyên gia về thương mại quốc tế và lĩnh vực liên quan đến vụ tranh chấp, độc lập với các nước TPP tranh chấp, cùng với quy chế thành lập ban hội thẩm kể cả trường hợp một nước thành viên không bổ nhiệm hội thẩm viên trong một thời hạn nhất định. Các hội thẩm viên phải tuân thủ một bộ quy tắc ứng xử để đảm bảo tính thống nhất của cơ chế giải quyết tranh chấp. Ban hội thẩm sẽ gửi báo cáo đầu tiên cho các nước TPP tranh chấp trong vòng 150 ngày kể từ ngày bổ nhiệm hội thẩm viên cuối cùng hoặc 120 ngày trong trường hợp khẩn cấp, chẳng hạn như các trường hợp liên quan đến hàng hóa dễ hỏng. Báo cáo đầu tiên sẽ được giữ bí mật để nước TPP tham gia đóng góp ý kiến. Báo cáo cuối cùng phải được gửi không quá 30 ngày sau báo cáo thứ nhất và phải được công khai trong thời hạn 15 ngày, tùy thuộc vào độ bảo mật của báo cáo.

Để tối đa hóa sự tuân thủ Hiệp định, chương này cho phép áp dụng trả đũa thương mại (ví dụ, tạm dừng cung cấp các lợi ích) nếu một bên không tuân thủ các nghĩa vụ mình và cũng không có biện pháp khắc phục. Trước khi biện pháp trả đũa thương mại được áp dụng, bên vi phạm có thể thương lượng hoặc yêu cầu một khoảng thời gian hợp lý để khắc phục vi phạm.

29. Trường hợp ngoại lệ

Chương về Trường hợp ngoại lệ đảm bảo các nước TPP có quyền linh hoạt áp dụng TPP miễn là các nước TPP đảm bảo đầy đủ các lợi ích công cộng, kể cả lợi ích an ninh thiết yếu và lý do phúc lợi công cộng khác. Chương này kết hợp các trường hợp ngoại lệ chung được quy định tại Điều XX của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại 1994 quy định về thương mại hàng hóa, theo đó Hiệp định này không ngăn cản các nước TPP áp dụng hoặc thi hành các biện pháp cần thiết để  bảo vệ đạo đức công cộng, bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người, động vật hoặc thực vật, bảo vệ tài sản trí tuệ, thực thi các biện pháp liên quan đến các sản phẩm do tù nhân tạo ra, và các biện pháp liên quan đến bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể bị cạn kiệt.

Chương này cũng bao gồm các trường hợp ngoại lệ chung tương tự quy định tại Điều XIV của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ liên quan đến các quy định thương mại dịch vụ.

Chương này quy định một ngoại lệ tự đánh giá áp dụng cho toàn bộ Hiệp định TPP. Theo đó, một Bên có quyền dùng bất cứ biện pháp cần thiết nào để bảo vệ lợi ích an ninh cơ bản của mình. Chương này cũng xác định hoàn cảnh và điều kiện mà một Bên có thể áp dụng các biện pháp tự vệ tạm thời (chẳng hạn như kiểm soát vốn) để hạn chế giao dịch - như góp vốn, chuyển lợi nhuận và cổ tức, thanh toán lãi hoặc tiền bản quyền, và các khoản thanh toán theo hợp đồng - liên quan để đầu tư theo Hiệp định để đảm bảo các chính phủ linh hoạt quản lý các dòng vốn biến động, tùy thuộc vào tình hình cán cân thanh toán hoặc các cuộc khủng hoảng kinh tế khác hoặc mối đe dọa từ khủng hoảng. Ngoài ra, các nước TPP không có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo TPP nếu nó trái với pháp luật của mình hoặc lợi ích công cộng, hoặc làm phương hại đến lợi ích thương mại hợp pháp của các doanh nghiệp cụ thể. Một nước TPP được quyền phủ quyết lợi ích của việc giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước đối với một vụ việc liên quan đến một biện pháp kiểm soát thuốc lá của nước thành viên đó.

30. Điều khoản thi hành

Chương này quy định hiệu lực thi hành của TPP, cách thức sửa đổi, các quy tắc thiết lập quy trình để các quốc gia hay vùng lãnh thổ khác tham gia TPP trong tương lai, hình thức rút khỏi Hiệp định TPP, và ngôn ngữ chính thức của TPP. Hiệp định cũng thành lập một cơ quan lưu chiểu có trách nhiệm tiếp nhận và phổ biến các tài liệu.

Chương này đảm bảo rằng TPP có thể được sửa đổi với điều kiện tất cả các nước TPP đồng ý và sau khi mỗi nước TPP đã hoàn thành thủ tục pháp lý của mình và thông báo cho Cơ quan lưu chiểu bằng văn bản.  Hiệp định TPP cho phép các thành viên của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương và các nước khác hoặc vùng lãnh thổ khác gia nhập nếu được các nước TPP đồng thuận, sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý được áp dụng tại mỗi nước TPP.  Chương này cũng quy định các thủ tục cần thực hiện khi một Bên muốn rút khỏi Hiệp định TPP.

 

Công bố quyết định mở rộng Khu Kinh tế Nghi Sơn

(THO) - Ngày 28-7, tại Trung tâm Hội nghị huyện Tĩnh Gia, Ban Quản lý Khu Kinh tế Nghi Sơn (KTNS) đã tổ chức lễ công bố quyết định mở rộng Khu KTNS và văn bản chấp thuận điều chỉnh quy hoạch phát triển các Khu công nghiệp (KCN) tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.

nghi sơn.jpg

Các đồng chí: Trịnh Văn Chiến, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh;
Nguyễn Đình Xứng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh
cùng các đại biểu tham dự buổi lễ

Tham dự buổi lễ có các đồng chí: Trịnh Văn Chiến, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Đình Xứng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Trần Hòa, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng BQL Khu KTNS; lãnh đạo Vụ quản lý các KKT và KCN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; lãnh đạo một số sở, ngành cấp tỉnh, TP Thanh Hóa và các huyện: Tĩnh Gia, Nông Cống, Như Thanh; đại diện các địa phương, đơn vị cùng các doanh nghiệp trong và ngoài nước đóng trên địa bàn Khu KTNS và đơn vị tư vấn.
Tại buổi lễ, đại diện lãnh đạo BQL Khu KTNS đã công bố Quyết định số 18/2015/QĐ-TTg ngày 12-6-2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế hoạt động của Khu KTNS, tỉnh Thanh Hóa, ban hành kèm theo Quyết định số 28/2010/QĐ-TTg, ngày 3-3-2010. Văn bản số 2269/TTg-KTN, ngày 13-11-2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN tỉnh Thanh Hóa đến năm 2020.
Theo đó, diện tích Khu KTNS sẽ được điều chỉnh tăng gần 6 lần, từ 18.611,8 ha lên 106.000 ha, bao gồm 66.497,57 ha đất liền và đảo, 39.502,43 ha mặt nước. Phần diện tích đất liền và đảo bao gồm toàn bộ diện tích thuộc địa giới hành chính của huyện Tĩnh Gia với 33 xã và 1 thị trấn (trong đó có 12 xã thuộc Khu KTNS hiện hữu); 3 xã Yên Mỹ, Công Bình, Công Chính thuộc huyện Nông Cống; 3 xã Thanh Tân, Thanh Kỳ, Yên Lạc thuộc huyện Như Thanh. Mục tiêu phát triển từ nay đến 2025 của Khu KTNS là hoàn thiện môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi, triển khai một số công trình hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và sản xuất, kinh doanh. Sau năm 2025, phát triển đồng bộ về công nghiệp, dịch vụ; thương mại; tài chính; văn hóa-xã hội; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Gắn phát triển kinh tế-xã hội với quốc phòng-an ninh. Đầu tư phát triển đồng bộ và hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng trong các khu đô thị sinh thái, thân thiện với môi trường, đạt tiêu chuẩn cao; phát triển theo mô hình đô thị xanh và bền vững; phấn đấu trở thành khu vực phát triển năng động và hiện đại.
Về điều chỉnh, bổ sung các KCN trên địa bàn: có 3 KCN được điều chỉnh mở rộng quy hoạch, bao gồm: KCN Bỉm Sơn tăng từ 450 ha lên 1.000 ha; KCN Lam Sơn-Sao Vàng tăng từ 200 ha lên 2.000 ha; KCN Lễ Môn tăng từ 62,61 ha lên 87,61 ha. Hợp nhất KCN Đình Hương và KCN Tây Bắc Ga và đổi tên thành KCN Đình Hương-Tây Bắc Ga với quy mô khoảng 180 ha. Bổ sung mới 5 KCN vào Quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam, bao gồm: KCN Hoàng Long, diện tích 286 ha; KCN Nam TP. Thanh Hóa 350 ha; KCN Thạch Quảng 100 ha; KCN Ngọc Lặc 150 ha; KCN Bãi Trành 116 ha.
Tiếp đó, đại diện đơn vị tư vấn đã thuyết trình Đề án điều chỉnh mở rộng Khu KTNS đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050 và Đề án bổ sung các KCN trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
ban đồ.jpg

Sơ đồ quy hoạch định hướng phát triển không gian Khu KTNS đến năm 2025, tầm nhìn 2050

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Đình Xứng, Chủ tịch UBND tỉnh, khẳng định: Việc mở rộng Khu KTNS và điều chỉnh, bổ sung quy hoạch các KCN đánh dấu bước phát triển mới, thời cơ mới, nhưng cũng đặt ra cho các cấp, ngành những nhiệm vụ và thách thức mới. Chính vì thế, đồng chí đề nghị BQL Khu KTNS và các cấp, ngành phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến về vai trò, vị trí của Khu KTNS và các KCN; về lợi ích của việc mở rộng Khu KTNS và các KCN đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân trong tỉnh. Từng người dân, cấp ủy, chính quyền, và các ngành có liên quan phải đề cao trách nhiệm trong việc triển khai các giải pháp phát triển Khu KTNS và các KCN. Khẩn trương tham mưu cho UBND tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung điều chỉnh, mở rộng Khu KTNS. Trên cơ sở quy hoạch chung được phê duyệt, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung quy hoạch chi tiết các khu chức năng đã được phê duyệt nhằm nâng cao chất lượng, phát huy hiệu quả quy hoạch trước mắt và lâu dài. Tiếp tục cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh công tác xúc tiến, kêu gọi đầu tư vào Khu KTNS và các KCN. Rà soát, bổ sung danh mục một số dự án có quy mô lớn, công nghệ cao để kêu gọi đầu tư. Tập trung huy động nguồn lực để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng thiết yếu trong Khu KTNS. Tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách di dân, tái định cư, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và nâng cao đời sống cho các đối tượng bị thu hồi đất. Tăng cường trách nhiệm của các cấp, ngành trong công tác quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, xây dựng, tài nguyên khoáng sản.
Bên cạnh đó, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các ngành chức năng sớm hoàn chỉnh Đề án đề nghị công nhận đô thị Nghi Sơn đạt tiêu chuẩn đô thị loại III; đồng thời nghiên cứu tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh thủ tục hình thành đơn vị hành chính đô thị để đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới.
(Nguồn: Báo Thanh Hóa Online)
 

 

Huân chương Lao động Hạng Nhất

Lịch công tác
Hộp thư điện tử

Bản đồ đến công ty