Bảng quảng cáo
Bảng quảng cáo
Liên kết

Quảng cáo

Thống kê truy cập
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterTuần này119
mod_vvisit_counterTháng này119
mod_vvisit_counterTổng truy cập3991

Hiện có: 86 guests online

Tin tức tổng hợp

Kết luận của Thủ tướng về nghỉ lễ, tết năm 2018

(Chinhphu.vn) - Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo kết luậncủa Thủ tướng Chính phủ tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về nghỉ lễ, tết năm 2018 của cán bộ, công chức, viên chức.

 

 

Ảnh minh họa

Ngày 5/12, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì cuộc họp Thường trực Chính phủ về nghỉ lễ, tết năm 2018 của cán bộ, công chức, viên chức. Sau khi nghe Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ báo cáo, phát biểu của lãnh đạo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ý kiến của các Phó Thủ tướng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý với đề nghị của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về việc nghỉ lễ, tết năm 2018.  

Theo đó, Nghỉ Tết Âm lịch từ thứ Tư, ngày 14/2/2018 (ngày 29 tháng chạp năm Đinh Dậu) đến hết thứ Ba, ngày 20/2/2018; 

Dịp lễ Quốc khánh: Nghỉ ngày Quốc khánh (2/9) và nghỉ bù vào ngày thứ Hai (3/9).

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các cơ quan, đơn vị thực hiện lịch nghỉ trên lưu ý bố trí, sắp xếp các bộ phận làm việc hợp lý để giải quyết công việc liên tục, bảo đảm tốt công tác phục vụ tổ chức, nhân dân.

Các cơ quan, đơn vị không thực hiện nghỉ cố định thứ Bảy và Chủ Nhật hằng tuần, sẽ căn cứ vào chương trình, kế hoạch cụ thể của đơn vị để bố trí lịch nghỉ cho phù hợp.

Thủ tướng Chính phủ ủy quyền Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thông báo việc thực hiện nghỉ lễ, tết năm 2018 như trên.

Minh Hiển

 

Công bố Quyết định nhân sự của Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng

(Chinhphu.vn) - Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Thành ủy Cần Thơ vừa tổ chức công bố các Quyết định của Bộ Chính trị và Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác cán bộ.

Đồng chí Phạm Minh Chính trao Quyết định và chúc mừng đồng chí Nguyễn Xuân Thắng. Ảnh Dangcongsan.vn

Chiều 14/12, tại Hà Nội, Hội đồng Lý luận Trung ương tổ chức công bố Quyết định của Bộ Chính trị về việc phân công phụ trách Hội đồng Lý luận Trung ương cho đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương.

Dự buổi lễ có các đồng chí lãnh đạo Ban Tổ chức Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Tại buổi lễ, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã trao Quyết định của Bộ Chính trị về việc phân công đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương phụ trách Hội đồng Lý luận Trung ương trong thời gian đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương nghỉ công tác để chữa bệnh.

Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Phạm Minh Chính cho biết: Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng là cán bộ được đào tạo cơ bản, là giáo sư, tiến sĩ kinh tế chính trị; trải qua nhiều vị trí công tác khác nhau  như: Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính trị thế giới; Viện trưởng Viện nghiên cứu Đông Bắc Á; Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương... Đồng chí là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa XII vừa qua, đồng chí được tín nhiệm bầu vào Ban Bí thư Trung ương Đảng.

Trong quá trình công tác, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng luôn nỗ lực, phấn đấu hết mình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, nhận được sự tin tưởng, ủng hộ của đồng chí, đồng nghiệp trong cơ quan, đơn vị mình từng công tác.

Hội đồng Lý luận Trung ương là cơ quan tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về các vấn đề lý luận chính trị, chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh phục vụ công tác lãnh đạo của Đảng; định hướng, hoạch định, phát triển đường lối, chính sách của Đảng, chuẩn bị văn kiện cho Đại hội Đảng toàn quốc.

Đồng chí Phạm Minh Chính bày tỏ tin tưởng, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng trên cương vị phụ trách Hội đồng Lý luận Trung ương với sự chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự giúp đỡ tận tình của các đồng chí lãnh đạo và tập thể cán bộ, công chức Hội đồng Lý luận Trung ương và các cơ quan có liên quan sẽ tiếp tục thể hiện được khả năng, kiến thức, kinh nghiệm, thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng của mình, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bộ Chính trị giao phó.

Bày tỏ niềm vinh dự được Bộ Chính trị tin tưởng phân công phụ trách Hội đồng Lý luận Trung ương, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng mong muốn sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Bộ Chính trị, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ban, ngành, đồng chí, đồng nghiệp để hoàn thành tốt nhiệm vụ ở các cương vị được giao.

Đồng chí Mai Văn Chính phát biểu tại buổi lễ. Ảnh TTXVN

* Theo TTXVN, sáng 15/12, tại thành phố Cần Thơ, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Thành ủy Cần Thơ đã tổ chức hội nghị triển khai quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác cán bộ.

 

Đến dự hội nghị có các đồng chí: Võ Văn Dũng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương; Mai Văn Chính, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương; Trần Quốc Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Cần Thơ.

 

Tại hội nghị, đồng chí Mai Văn Chính đã trao quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng cho đồng chí Phạm Gia Túc.

 

Theo đó, đồng chí Phạm Gia Túc, Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ nhiệm kỳ 2015-2020 thôi tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Cần Thơ, Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ, thôi giữ chức Phó Bí thư Thành ủy Cần Thơ nhiệm kỳ 2015-2020; điều động đến công tác tại Ban Nội chính Trung ương và bổ nhiệm giữ chức Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương.

 

Thay mặt Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí Mai Văn Chính chúc mừng đồng chí Phạm Gia Túc đã hoàn thành nhiệm vụ được Trung ương giao và chúc đồng chí sẽ tiếp tục đạt được những thành tích xuất sắc trong cương vị công tác mới.

 

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Phạm Gia Túc cảm ơn Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố các khóa XII, XIII đã giúp đỡ, chỉ đạo, hướng dẫn đồng chí trong suốt thời gian công tác gần 4 năm tại thành phố Cần Thơ; đồng thời hứa sẽ cố gắng nhiều hơn nữa để xứng đáng với nhận xét, đánh giá cao của Ban Tổ chức Trung ương, của Bí thư Thành ủy Cần Thơ; dù ở cương vị mới nhưng vẫn luôn tích cực đóng góp cho thành phố Cần Thơ phát triển mạnh hơn nữa, xứng đáng là trung tâm động lực của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

 

Thông cáo Báo chí của Bộ Công Thương về việc điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân năm 2017

(nguồn www.evn.com.vn)

 

A. Về việc công bố chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2016

Thực hiện Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân, Quyết định số 5070/QĐ-BCT ngày 28 tháng 12 năm 2016 của Bộ Công Thương về việc phê duyệt Kế hoạch kiểm tra năm 2017, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3173/QĐ-BCT ngày 17 tháng 8 năm 2017 về việc kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện; tình hình thực hiện các quy định về thi đua, khen thưởng; công tác thống kê và công tác tăng cường sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong đấu thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và một số đơn vị thành viên.

Về nội dung kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2016 của EVN, Tổ công tác gồm đại diện: Bộ Công Thương, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Điện lực Việt Nam, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Trong thời gian qua, Tổ công tác đã kiểm tra thực tế tại Công ty mẹ - EVN và một số đơn vị thành viên của EVN.

Căn cứ vào kết quả kiểm tra của Tổ công tác, Bộ Công Thương công bố nội dung về giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2016 của EVN như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Cơ sở pháp lý của việc kiểm tra, tính toán giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2016 bao gồm các văn bản:

1. Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân.

2. Quyết định số 3173/QĐ-BCT ngày 17 tháng 8 năm 2017 về việc kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện; tình hình thực hiện các quy định về thi đua, khen thưởng; công tác thống kê và công tác tăng cường sử dụng vật tư, hàng hóa sản xuất trong nước trong đấu thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước của Tập đoàn Điện lực Việt Nam và một số đơn vị thành viên.

II. Nguyên tắc kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện

Trong quá trình kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2016, Tổ công tác đã căn cứ vào các nguyên tắc sau để phân tách và kiểm tra các thành phần chi phí:

1. Chi phí sản xuất kinh doanh điện chỉ bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh của các hoạt động trong lĩnh vực điện, không bao gồm lĩnh vực khác.

2. Tách bạch chi phí các khâu phát điện, truyền tải, phân phối, phụ trợ và quản lý ngành.

3. Chi phí mua điện từ các nhà máy điện độc lập, từ các nhà máy điện đã cổ phần hoá có ký hợp đồng mua bán điện với EVN, từ các nhà máy điện thuộc công ty TNHH một thành viên hạch toán độc lập với EVN xác định thông qua hợp đồng mua bán điện.

4. Chi phí sản xuất điện từ các nhà máy hạch toán phụ thuộc EVN được xác định căn cứ vào số liệu chi phí đã được kiểm toán độc lập xác nhận.

5. Việc kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2016 căn cứ trên các tài liệu do EVN và các đơn vị thành viên cung cấp, gồm: Báo cáo chi phí và giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2016 của EVN do kiểm toán độc lập (Công ty TNHH Deloitte Việt Nam) kiểm toán; báo cáo tài chính hợp nhất năm 2016 sau kiểm toán của EVN, báo cáo tài chính do đơn vị kiểm toán độc lập kiểm toán của Công ty mẹ EVN và các đơn vị thành viên; hợp đồng mua bán điện giữa EVN và các đơn vị phát điện (kiểm tra chọn mẫu); tài liệu do các đơn vị được kiểm tra cung cấp theo yêu cầu của Tổ công tác. EVN chịu trách nhiệm về tính chính xác và tính trung thực của các số liệu báo cáo cho Tổ công tác kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện.

6. Việc kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2016 không bao gồm thanh kiểm tra việc chấp hành của EVN đối với các quy định của pháp luật về quản lý sử dụng vốn và tài sản, các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp và tài chính doanh nghiệp, các quy định về đầu tư, đấu thầu xây dựng công trình điện và mua sắm, thanh lý thiết bị. Việc kiểm tra chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2016 không bao gồm việc kiểm tra cơ cấu sản lượng điện phát. Khi có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền về các vấn đề liên quan, chi phí/giá thành sản xuất kinh doanh điện sẽ được hiệu chỉnh tương ứng.

III. Chi phí, giá thành sản xuất kinh doanh điện các khâu

Năm 2016, sản lượng điện thương phẩm thực hiện là 159,79 tỷ kWh; tỷ lệ tổn thất điện năng toàn EVN là 7,57%, thấp hơn 0,13% so với kế hoạch và thấp hơn 0,37% tỷ lệ tổn thất điện năng thực tế của EVN năm 2015 (7,94%).

Tổng chi phí sản xuất kinh doanh điện năm 2016 là 266.104,25 tỷ đồng (thu nhập từ thanh lý, nhượng bán tài sản cố định và vật tư thu hồi, thu nhập từ hoạt động cho thuê cột điện đã được tính giảm trừ trong chi phí sản xuất kinh doanh điện); giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2016 là 1.665,29 đ/kWh, trong đó:

- Tổng chi phí khâu phát điện là 203.000,73 tỷ đồng, tương ứng với giá thành khâu phát điện theo điện thương phẩm là 1.270,38 đ/kWh.

- Tổng chi phí khâu truyền tải điện là 16.167,27 tỷ đồng, tương ứng với giá thành khâu truyền tải điện theo điện thương phẩm là 101,18 đ/kWh.

- Tổng chi phí khâu phân phối - bán lẻ điện là 45.859,32 tỷ đồng, tương ứng với giá thành khâu phân phối - bán lẻ điện theo điện thương phẩm là 286,99 đ/kWh.

- Tổng chi phí khâu phụ trợ - quản lý ngành là 1.076,93 tỷ đồng, tương ứng với giá thành khâu phụ trợ - quản lý ngành theo điện thương phẩm là 6,74 đ/kWh.

Chi phí sản xuất kinh doanh điện tại các huyện, xã đảo khu vực chưa nối lưới điện quốc gia được hạch toán vào giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2016. Khoản bù giá cho chi phí sản xuất kinh doanh điện tại các huyện đảo Phú Quý (tỉnh Bình Thuận), Côn Đảo (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), Bạch Long Vĩ (thành phố Hải Phòng), Cù Lao Chàm (thành phố Hội An), đảo Bé (huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Nam) và các xã, đảo Khánh Hòa là 142,91 tỷ đồng. Giá thành sản xuất kinh doanh điện năm 2016 tại huyện đảo huyện đảo Phú Quý là 6.132,13 đ/kWh, huyện đảo Côn Đảo là 7.001,52 đ/kWh, Bạch Long Vĩ là 9.454,55 đ/kWh, Cù Lao Chàm là 9.210,53 đ/kWh và Đảo bé, Đảo Lý Sơn và các xã, đảo Khánh Hòa lần lượt là 13.250,00 và 15.785,71 đ/kWh. Giá bán điện bình quân tại các huyện, xã đảo tương ứng là 1.701,81 đ/kWh, 2.002,28 đ/kWh, 1.803,03 đ/kWh, 1.710,53 đ/kWh, 1.875,00 đ/kWh và 1.500,00 đ/kWh. Như vậy, nếu so với giá thành sản xuất kinh doanh điện nêu trên thì giá bán điện bình quân tại các huyện đảo Phú Quý, Côn Đảo, Bạch Long Vĩ, Cù Lao Chàm và Đảo bé, Đảo Lý Sơn và các xã, đảo Khánh Hòa chỉ bằng 27,75%, 28,60%, 19,07%, 18,57%, 14,15% và 9,50% giá thành điện thực tế ở các đảo.

Doanh thu bán điện năm 2016 là 265.510,79 tỷ đồng (tương ứng giá bán điện thương phẩm bình quân thực hiện là 1.661,57 đ/kWh). Hoạt động sản xuất kinh doanh điện năm 2016 lỗ 593,46 tỷ đồng.

Thu nhập từ các hoạt động có liên quan đến sản xuất kinh doanh điện trong năm 2016 là 3.251,66 tỷ đồng, gồm:

- Thu nhập từ tiền bán công suất phản kháng: 729,49 tỷ đồng.

- Thu nhập hoạt động tài chính của Công ty mẹ - EVN (từ lãi tiền gửi, thu nhập từ phí cho vay lại, lãi cho Genco, NPT vay lại; số liệu do EVN báo cáo): 1.442,71 tỷ đồng (trong đó lãi tiền gửi là 618,06 tỷ đồng; phí cho vay lại là 299,87 tỷ đồng; lãi cho Genco, NPT vay lại là 524,78 tỷ đồng).

- Thu nhập hoạt động tài chính của Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (từ lãi tiền gửi): 268,03 tỷ đồng.

- Thu nhập hoạt động tài chính của các Tổng công ty Điện lực (từ lãi tiền gửi, tiền cho vay): 443,00 tỷ đồng.

- Thu nhập từ cổ tức và lợi nhuận được chia của Công ty mẹ EVN (số liệu EVN báo cáo): 75,00 tỷ đồng.

- Thu nhập từ cổ tức và lợi nhuận được chia, lãi chuyển nhượng vốn của các Tổng công ty Điện lực (số liệu EVN báo cáo): 293,43 tỷ đồng.

Tổng cộng hoạt động sản xuất kinh doanh điện năm 2016 và các hoạt động liên quan đến hoạt động điện năm 2016 EVN lãi 2.658,20 tỷ đồng (chưa tính tới thu nhập từ sản xuất khác như xây lắp điện, sửa chữa thí nghiệm điện, các dịch vụ cho thuê tài sản, vận tải, bốc dỡ, các khoản phạt vi phạm hợp đồng của các Tổng công ty Điện lực, v.v.).

Theo báo cáo của cơ quan kiểm toán độc lập (Công ty TNHH Deloitte Việt Nam), các khoản chi phí chưa tính vào giá thành sản xuất, kinh doanh điện năm 2016 gồm:

- Chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện phân bổ lũy kế đến ngày 31/12/2016 của các công ty sản xuất, kinh doanh điện do công ty mẹ EVN sở hữu 100% vốn: Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia là 2.352,25 tỷ đồng; Công ty mẹ - Tổng công ty phát điện 1 là 2.782,52 tỷ đồng; Công ty mẹ - Tổng công ty phát điện 3 là 3.374,22 tỷ đồng.

- Chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện phân bổ lũy kế đến ngày 31/12/2016 của khối các công ty cổ phần có vốn góp chi phối của Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Công ty cổ phần Nhiệt điện Hải Phòng là 714,26 tỷ đồng, Công ty cổ phần Nhiệt điện Quảng Ninh là 386,70 tỷ đồng và Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại là 185,48 tỷ đồng.

B. Về việc điều chỉnh giá bán lẻ điện bình quân năm 2017

Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc về việc điều hành giá bán lẻ điện năm 2017 thì giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh với mức giá mới là 1.720,65 đồng/kWh (chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng), tăng 6,08% so với giá bán điện bình quân hiện hành (1.622,01 đồng/kWh). Thời điểm điểu chỉnh là từ 01 tháng 12 năm 2017.

Việc điều chỉnh giá bán điện lần này được thực hiện trên cơ sở kết quả kiểm tra giá thành sản xuất, kinh doanh điện năm 2016 đã được kiểm toán độc lập và kiểm tra bởi Tổ công tác liên Bộ, trong đó có xem xét đến các yếu tố tăng giảm chi phí đầu vào và các khoản chi phí chưa tính vào giá thành sản xuất, kinh doanh điện năm 2016 và chi phí ước thực hiện năm 2017 theo quy định tại Quyết định số Quyết định số 24/2017/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế điều chỉnh mức giá bán điện lẻ bình quân.

Mức giá cho từng nhóm khách hàng được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 28/2014/QĐ-TTg ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ cấu biểu giá bán lẻ điện.

 

 

Thủ tướng biểu dương hành động dũng cảm cứu người trong bão dữ

(Chinhphu.vn) - Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc biểu dương anh Nguyễn Bá Luân, Giám đốc Công ty TNHH Sơn Nam và một số đồng nghiệp, trong khi cơn bão số 12 còn đang hoành hành, đã bất chấp hiểm nguy, dũng cảm đưa ca nô ra biển cùng các lực lượng chức năng kịp thời cứu được nhiều người dân gặp nạn trên biển.

Trong thư gửi anh Nguyễn Bá Luân, Giám đốc Công ty TNHH Sơn Nam, tỉnh Khánh Hòa, Thủ tướng viết: 
Bão số 12 vừa qua là cơn bão mạnh, vùng tâm bão gió mạnh cấp 12, giật cấp 14, đã đổ bộ trực tiếp vào các tỉnh Nam Trung Bộ. Với sự nỗ lực cao nhất, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cùng các Bộ, ngành, địa phương đã tập trung chỉ đạo quyết liệt nhằm giảm thiểu tối đa những thiệt hại mà bão gây ra cho nhân dân. Tuy nhiên, do sức tàn phá lớn, bão đổ bộ vào khu vực lâu nay ít chịu ảnh hưởng của bão, kết hợp với mưa lớn nên đã gây thiệt hại lớn về tính mạng, tài sản của người dân, nhiều gia đình chịu cảnh đau thương tang tóc.

Tôi rất xúc động được biết trong khi cơn bão số 12 còn đang hoành hành, anh Nguyễn Bá Luân, Giám đốc Công ty TNHH Sơn Nam và một số đồng nghiệp đã bất chấp hiểm nguy, dũng cảm đưa ca nô ra biển cùng các lực lượng chức năng kịp thời cứu được nhiều người dân gặp nạn trên biển. Thay mặt Chính phủ, tôi nhiệt liệt biểu dương, đánh giá cao tinh thần nghĩa hiệp, trách nhiệm và tình người sâu sắc của anh Nguyễn Bá Luân và các đồng nghiệp. Hành động cao cả, đáng trân trọng này thể hiện truyền thống tốt đẹp, tương thân tương ái, thương người như thể thương thân của dân tộc ta.

Nhân đây, Thủ tướng Chính phủ kêu gọi các cơ quan, tổ chức, đoàn thể và nhân dân cả nước tiếp tục chung sức giúp người dân bị ảnh hưởng của bão, lũ. Tôi yêu cầu lãnh đạo các tỉnh vùng Nam Trung Bộ tiếp tục tập trung chỉ đạo khắc phục thiệt hại, tổ chức thăm hỏi, động viên, hỗ trợ đồng bào sớm ổn định cuộc sống và sản xuất; không được chủ quan trước diễn biến thiên tai ngày càng phức tạp, chủ động có các biện pháp phòng, tránh và cứu hộ, cứu nạn cần thiết nhằm bảo đảm an toàn cho nhân dân khi có thiên tai, mưa lũ lớn xảy ra

 

Nghị quyết Trung ương 6 về công tác dân số trong tình hình mới

(Chinhphu.vn) - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII (Nghị quyết số 21 -NQ/TW) về công tác dân số trong tình hình mới. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:

I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

1- Sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay, hạn chế tăng thêm hàng chục triệu người. Cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực. Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Từ năm 2007, nước ta bước vào thời kỳ dân số vàng.

Chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,4 tuổi năm 2016, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người. Tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em giảm mạnh. Tầm vóc, thể lực người Việt Nam có bước cải thiện. Dân số đã có sự phân bố hợp lý hơn, gắn với quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Công tác tuyên truyền, giáo dục, nhận thức về dân số và kế hoạch hoá gia đình của các cấp, các ngành và toàn dân có bước đột phá. Mỗi cặp vợ chồng có 2 con đã trở thành chuẩn mực, lan toả, thấm sâu trong toàn xã hội. Dịch vụ dân số và kế hoạch hoá gia đình được mở rộng, chất lượng ngày càng cao.

2- Tuy nhiên, công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình vẫn còn nhiều hạn chế. Mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch đáng kể. Mất cân bằng giới tính khi sinh tăng nhanh, đã ở mức nghiêm trọng. Chưa có giải pháp đồng bộ phát huy lợi thế của thời kỳ dân số vàng và thích ứng với già hoá dân số.

Người ít có điều kiện chăm sóc và nuôi dưỡng con còn đẻ nhiều, ảnh hưởng đến chất lượng dân số. Chỉ số phát triển con người (HDI) còn thấp. Tỉ lệ suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ, trẻ em còn cao. Tầm vóc, thể lực của người Việt Nam chậm được cải thiện. Tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khoẻ mạnh thấp so với nhiều nước. Tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết thống còn phổ biến ở một số dân tộc ít người.

Phân bố dân số, quản lý nhập cư, di dân còn nhiều bất cập. Việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người di cư và ở nhiều đô thị, khu công nghiệp còn nhiều hạn chế.

Công tác truyền thông, giáo dục về dân số ở một số khu vực, nhóm đối tượng hiệu quả chưa cao, vai trò nhà trường còn hạn chế. Nội dung truyền thông, cung cấp dịch vụ chưa toàn diện, chủ yếu tập trung vào kế hoạch hoá gia đình.

Một số cơ chế, chính sách về dân số chậm đổi mới. Tổ chức bộ máy thiếu ổn định, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình ở cấp cơ sở còn thấp. Chức năng, nhiệm vụ chưa được điều chỉnh phù hợp với diễn biến tình hình dân số. Các nội dung về dân số trong phát triển kinh tế - xã hội còn chưa được chú trọng đúng mức. Nguồn lực đầu tư cho dân số, kế hoạch hoá gia đình còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu.

3- Những hạn chế, yếu kém trên đây có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu; đặc biệt là:

- Một số cấp uỷ, chính quyền chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tính chất lâu dài, khó khăn, phức tạp, tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình; lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt, chưa hiệu quả.

- Trong nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số vẫn còn nặng về kế hoạch hoá gia đình, chưa chú trọng các mặt cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và tác động qua lại với phát triển.

- Tư tưởng muốn có nhiều con, trọng nam hơn nữ vẫn còn khá phổ biến trong một bộ phận nhân dân, kể cả cán bộ, đảng viên.

II- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VÀ MỤC TIÊU

1- Quan điểm

- Dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác dân số là nhiệm vụ chiến lược, vừa cấp thiết vừa lâu dài; là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân.

- Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững.

- Chính sách dân số phải bảo đảm cân bằng, hài hoà giữa quyền và nghĩa vụ của mọi người dân; giữa việc tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi với thực thi nghiêm kỷ cương pháp luật; giữa việc mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật mới với việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân.

- Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế để bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số.

- Tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với trọng tâm công tác dân số trong từng thời kỳ, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của cấp uỷ, chính quyền các cấp và sự quản lý chuyên môn, nghiệp vụ.

2- Mục tiêu

Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế - xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Đến năm 2030:

- Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người.

Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng; 50% số tỉnh đạt mức sinh thay thế; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 2/3 số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn.

- Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10.000 người, đặc biệt là những dân tộc có rất ít người.

- Tỉ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỉ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỉ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%.

- Tỉ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khoẻ trước khi kết hôn đạt 90%; giảm 50% số cặp tảo hôn, giảm 60% số cặp hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.

- Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khoẻ mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khoẻ, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

- Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á.

- Tỉ lệ dân số đô thị đạt trên 45%. Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Bảo đảm người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.

- 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô toàn quốc.

III- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác dân số. Thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội về tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách từ tập trung vào kế hoạch hoá gia đình sang giải quyết toàn diện các vấn đề quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số trong mối quan hệ hữu cơ với phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đưa công tác dân số, đặc biệt là nâng cao chất lượng dân số thành một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền các cấp. Thực hiện lồng ghép có hiệu quả các yếu tố dân số trong các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của cả nước, của từng ngành, từng địa phương. Phát huy tối đa lợi thế dân số vàng, thích ứng với già hoá dân số.

Tăng cường phối hợp liên ngành, phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân và của cả cộng đồng trong công tác dân số. Phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng đối với từng ngành, từng cơ quan, đoàn thể trong thực hiện các mục tiêu, giải pháp; đặc biệt là trong việc thực hiện các phong trào thi đua, các cuộc vận động về công tác dân số, thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng môi trường sống lành mạnh, nâng cao sức khoẻ và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan toả sâu rộng trong toàn xã hội.

2- Đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động về công tác dân số

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nội dung truyền thông, giáo dục phải chuyển mạnh sang chính sách dân số và phát triển.

Tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh con và nuôi dạy con tốt. Tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp.

Nâng cao nhận thức, thực hành về bình đẳng giới; đẩy mạnh truyền thông giáo dục chuyển đổi hành vi nhằm giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh. Tạo chuyển biến rõ nét ở những vùng có tỉ số giới tính khi sinh cao.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khơi dậy phong trào mọi người dân thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức khoẻ, tầm vóc, thể lực người Việt Nam. Nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về cư trú, về cấm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống.

Đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khoẻ sinh sản trong và ngoài nhà trường. Hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khoẻ sinh sản đúng đắn, có hệ thống ở thế hệ trẻ.

3- Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về dân số

Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về dân số gắn với xây dựng gia đình hạnh phúc. Rà soát, điều chỉnh hoặc bãi bỏ một số quy định về xử lý vi phạm trong công tác dân số; đồng thời đề cao tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chính sách dân số, xây dựng gia đình văn hoá, hạnh phúc. Nâng cao hiệu lực pháp lý trong quản lý và tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người dân, triển khai toàn diện các nội dung của công tác dân số. Kiện toàn hệ thống thanh tra chuyên ngành dân số, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm.

Rà soát, bổ sung các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Ngăn ngừa có hiệu quả việc lạm dụng khoa học-công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi. Đẩy mạnh công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Ban hành Chiến lược dân số trong tình hình mới; phát huy tối đa lợi thế cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững và thích ứng với già hoá dân số.

Hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; khuyến khích người cao tuổi tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội; xác định rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của người sử dụng lao động và người lao động cao tuổi. Tích cực, chủ động xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi.

Rà soát, nâng cao chất lượng quy hoạch các đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, chủ động chuẩn bị các điều kiện để dân cư được phân bố tương ứng, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của từng vùng và trong chiến lược tổng thể xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Có chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng với các dịch vụ xã hội cơ bản; hỗ trợ thoả đáng để thu hút, tạo điều kiện cho người dân sinh sống ổn định, lâu dài ở các khu vực khó khăn, trọng yếu về an ninh, quốc phòng. Thực hiện có hiệu quả chính sách bảo vệ và phát triển các dân tộc thiểu số, đặc biệt là các dân tộc thiểu số rất ít người.

4- Phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số

Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số toàn diện về quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số.

Tiếp tục củng cố mạng lưới dịch vụ kế hoạch hoá gia đình. Phát triển mạng lưới cung cấp các dịch vụ tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh, hỗ trợ sinh sản, tư vấn kiểm tra sức khoẻ sinh sản trước hôn nhân. Tăng cường kết nối, hợp tác với các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập. Đổi mới phương thức cung cấp, đưa dịch vụ tới tận người sử dụng; thúc đẩy cung cấp dịch vụ qua mạng.

Sắp xếp lại hệ thống các cơ sở bảo trợ xã hội công lập theo hướng đẩy mạnh xã hội hoá, tạo lập môi trường thân thiện, hoà nhập giữa các nhóm đối tượng và với xã hội.

Phát triển mạnh hệ thống chuyên ngành lão khoa trong các cơ sở y tế. Khuyến khích phát triển các cơ sở chăm sóc người cao tuổi; cơ sở cung cấp các loại hình dịch vụ đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, văn hoá, giải trí của người cao tuổi.

Ưu tiên đầu tư nguồn lực nhà nước, đồng thời huy động nguồn lực xã hội phát triển các cơ sở cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản bảo đảm các nhóm dân số đặc thù như trẻ em, người khuyết tật, người bị di chứng chiến tranh, người cao tuổi, đồng bào dân tộc ít người, người di cư… đều thực sự bình đẳng về cơ hội tham gia, thụ hưởng thành quả phát triển.

Đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, nhất là các vấn đề mới, trọng tâm về cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số và lồng ghép yếu tố dân số vào kế hoạch phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước, phát triển mạng lưới nghiên cứu về dân số và phát triển.

5- Bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số

Bảo đảm đủ nguồn lực đáp ứng yêu cầu triển khai toàn diện công tác dân số. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho công tác dân số, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ, giáo dục, đào tạo, văn hoá, thể thao... nhằm nâng cao chất lượng dân số, đời sống mọi mặt của nhân dân, nhất là đối tượng chính sách, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo.

Đẩy mạnh xã hội hoá, có chính sách khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất, phân phối, cung cấp các phương tiện, dịch vụ trong lĩnh vực dân số.

Phát triển thị trường, đa dạng hoá các gói bảo hiểm, bao gồm bảo hiểm nhà nước, bảo hiểm thương mại với nhiều mệnh giá tương ứng các gói dịch vụ khác nhau để các nhóm dân số đặc thù đều bình đẳng trong việc tham gia và thụ hưởng các dịch vụ phúc lợi, an sinh xã hội.

6- Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số

Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác dân số theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả; bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, đồng thời thực hiện quản lý chuyên môn thống nhất. Có chính sách đãi ngộ thoả đáng, nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ cộng tác viên ở thôn, bản, tổ dân phố...

Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ dân số các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang chính sách dân số và phát triển. Đưa nội dung dân số và phát triển vào chương trình đào tạo, tập huấn, nghiên cứu khoa học.

Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành nhằm tăng cường chỉ đạo, điều phối hoạt động của các ngành, cơ quan có chức năng quản lý các lĩnh vực liên quan tới dân số và phát triển.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ, tạo thuận lợi cho người dân. Đẩy nhanh triển khai thực hiện đăng ký dân số và cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia thống nhất dùng chung đáp ứng yêu cầu quản lý xã hội. Cung cấp số liệu đầy đủ, tin cậy và dự báo dân số chính xác phục vụ việc lồng ghép các yếu tố dân số trong xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội.

7- Tăng cường hợp tác quốc tế

Chủ động, tích cực hội nhập, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dân số. Tích cực tham gia các tổ chức, diễn đàn đa phương, song phương về dân số và phát triển. Tranh thủ sự đồng thuận, hỗ trợ về tài chính, tri thức, kinh nghiệm và kỹ thuật của các nước, các tổ chức quốc tế. Tập trung nguồn lực để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc về dân số.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến công tác dân số; tăng cường sự giám sát của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội về công tác dân số.

2- Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch với các nhiệm vụ, giải pháp, lộ trình cụ thể, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ để thực hiện Nghị quyết.

3- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban cán sự đảng Bộ Y tế, Ban cán sự đảng Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng về nội dung, kết quả thực hiện Nghị quyết.

4- Ban cán sự đảng Chính phủ chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn và cấp uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết

 

Phát biểu của Thủ tướng khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam 2017

(Chinhphu.vn) - Sáng 07/11, tại Đà Nẵng, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã dự và phát biểu khai mạc Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam (VBS) 2017. Cổng thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu nội dung phát biểu của Thủ tướng với nhan đề "Việt Nam hội nhập, năng động đổi mới, phát triển toàn diện".

Thưa Bà Victoria Kwakwa, Phó Chủ tịch Ngân hàng Thế Giới khu vực Đông Á và Thái Bình Dương,

Thưa Ngài Philipp Rosler, Giám đốc Điều hành, Diễn đàn Kinh tế Thế giới,

Thưa các vị Đại sứ, Trưởng các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế tại Việt Nam,

Thưa các vị chuyên gia, nhà đầu tư, doanh nghiệp trong nước và quốc tế,

Thay mặt Chính phủ Việt Nam, tôi nhiệt liệt chào mừng Quý vị và các bạn tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam được tổ chức nhân dịp Tuần lễ Cấp cao APEC 2017 và xin gửi tới các vị khách quý, quý vị đại biểu, đại diện các tổ chức và doanh nghiệp, các chuyên gia, nhà đầu tư trong nước và quốc tế lời thăm hỏi thân thiết.

Cùng với nhiều sự kiện của Hội nghị APEC, Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam được tổ chức tại thành phố Đà Nẵng và Đô thị cổ Hội An, vốn là thương cảng sôi động từ đầu thế kỷ 17 bởi các đội tàu buôn của Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và Châu Âu; đặt nền móng cho phát triển giao thương hàng trăm năm nay. Đến nay, Việt Nam vẫn đang nỗ lực hoàn thiện mình để tiếp tục là "đối tác kinh doanh tin cậy", đầy triển vọng trong cộng đồng doanh nghiệp quốc tế và của các quốc gia. Theo AmCham Singapore tháng 9/2017, có 56% doanh nghiệp được khảo sát đã coi Việt Nam là đối tác thương mại tốt nhất.

Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) đã chỉ ra rằng quá trình chuyển đổi kinh tế của Việt Nam trong 30 năm qua có ý nghĩa rất to lớn. Với việc thực hiện các cải tổ kinh tế sâu rộng đã được chuyển hóa thành tốc độ tăng GDP cao, đạt bình quân gần 7%/năm, mức thu nhập của người dân cũng được nâng cao. Năm 2017 dự kiến GDP tăng 6,7% và phấn đấu trong 2016-2020 tăng 6,5-7%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2017 của Việt Nam tăng lên khoảng 2.300 USD (tính theo PPP là khoảng 6.800 USD).

Theo "Báo cáo 2035" (2016) của WB, hiện có khoảng 10% dân số Việt Nam thuộc tầng lớp trung lưu, dự kiến đến 2035 sẽ có 50% dân số gia nhập tầng lớp trung lưu. Điều này làm gia tăng nhu cầu của nền kinh tế, nhiều việc làm tốt hơn được tạo ra không chỉ đối với trong nước mà Việt Nam còn từng bước tham gia vào các chuỗi cung ứng, các mạng sản xuất trong khu vực APEC và thế giới. Thu nhập tăng nhanh khiến ngày càng có nhiều người Việt Nam thuộc tầng lớp trung lưu, từ đó làm thay đổi cấu trúc tiêu dùng của nền kinh tế, mở ra các cơ hội cho nhà đầu tư biết nắm lấy cơ hội, đón đầu xu thế thay đổi đó.

Việt Nam đã cho thấy sự năng động của mình thông qua việc tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và ủng hộ mạnh mẽ tự do thương mại toàn cầu. Việt Nam đã ký kết, tham gia 12 hiệp định thương mại tự do (FTA) và đang đàm phán 4 FTA mới, trong đó có 18 đối tác thuộc các nền kinh tế APEC.

Sau 10 năm gia nhập WTO, kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2017 của Việt Nam đã tăng 4 lần, đạt trên 400 tỷ USD, tương đương 170% GDP. Chúng tôi đã nỗ lực cải thiện đáng kể môi trường đầu tư, kinh doanh. Đến nay đã có hơn 24.200 dự án đầu tư trực tiếp FDI đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ đang hoạt động với tổng vốn đăng ký trên 310 tỷ USD, tương đương 155% GDP. Trong đó, riêng vốn đầu tư FDI từ các nền kinh tế APEC vào Việt Nam đạt gần 250 tỷ USD, chiếm xấp xỉ 80% tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong 3 thập niên qua. Nhiều tập đoàn kinh tế hàng đầu của các nền kinh tế APEC đã lựa chọn Việt Nam để phát triển trung tâm sản xuất khu vực và kết nối trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo các tổ chức quốc tế uy tín và nhiều doanh nghiệp, nhà đầu tư, năng lực cạnh tranh, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam ngày càng được cải thiện. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh (GCI) 2017-2018 của Việt Nam tăng 20 bậc trong 5 năm qua, đứng thứ 55/137 nước, trong đó quy mô thị trường xếp thứ 31/137 nước. Theo Ngân hàng Thế giới (WB) công bố 31/10/2017, xếp hạng 2018 về môi trường kinh doanh (DB) của Việt Nam là 68/190 quốc gia , tăng 14 bậc so với năm trước (thuộc ASEAN-5). Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) tháng 5/2017, đã công bố Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2017 (GII 2017), Việt Nam đã tăng hạng lên vị trí 47/127 nước và nền kinh tế (tăng 12 bậc).

Thưa Quý vị,

Với quy mô dân số xấp xỉ 95 triệu người, cấu trúc dân số trẻ với gần 60% người dân dưới 35 tuổi, thu nhập tăng nhanh, đặc biệt là tầng lớp trung lưu mới nổi. Bình quân giai đoạn 10 năm 2007-2016, chi tiêu cuối cùng của khu vực hộ gia đình chiếm 67,3% GDP và đạt mức tăng khoảng 16%/năm. Tiêu dùng trong nước đã trở thành một động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam bên cạnh khu vực xuất khẩu. Thu nhập tăng đã làm cho Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà sản xuất hàng tiêu dùng, đặc biệt là các nhãn hàng nổi tiếng nước ngoài. Các sản phẩm điện thoại thông minh của Apple, Samsung, LG và Sony rất được người Việt Nam ưa chuộng, bên cạnh đó, những thương hiệu như Huawei và Oppo (của Trung Quốc) vốn có mẫu mã và nhiều tính năng không thua kém cũng được giới trẻ lựa chọn.

Việt Nam có khoảng 52 triệu người dùng Internet, chiếm 54% dân số, đứng thứ 5 ở châu Á-Thái Bình Dương về tỷ lệ dân số có kết nối Internet, sau Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Indonesia. Việt Nam cũng là nước kết nối di động cao với khoảng 55% người Việt sử dụng điện thoại thông minh. Dự báo đến năm 2020, Việt Nam sẽ là quốc gia trong nhóm đứng đầu khu vực về số người sử dụng điện thoại di động. Đây vừa là một nền tảng quan trọng vừa là cơ hội lớn để giúp các nhà đầu tư tiềm năng dễ dàng kết nối các sản phẩm, dịch vụ của mình đến lượng khách hàng tiềm năng lớn của Việt Nam.

Thưa Quý vị,

Những kết quả mà Việt Nam đã đạt được cho đến nay chính là nguồn động lực quan trọng để Việt Nam tự tin, vững bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới. Chúng tôi quyết tâm xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ người dân, doanh nghiệp; đẩy mạnh hội nhập quốc tế; tiếp tục thực hiện mục tiêu duy trì ổn định vĩ mô vững chắc, cải cách thể chế, chính sách pháp luật, phát triển bền vững, chú trọng tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân.

Tôi nhấn mạnh một số định hướng lớn sau đây:

Thứ nhất, tập trung vào cải thiện chất lượng thể chế, chính sách pháp luật, thúc đẩy pháp quyền, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực quản trị nhà nước, ổn định kinh tế vĩ mô theo hướng tăng trưởng bền vững, bảo đảm các thăng tiến xã hội không ngừng, kéo tầng lớp dân cư thu nhập thấp tiến lên hội tụ với nhóm thu nhập trung bình và khá. Khát vọng vươn lên làm giầu chính là chìa khóa để duy trì sự chuyển động của một vòng xoay tích cực thúc đẩy lẫn nhau giữa sự gia tăng tầng lớp trung lưu và tăng trưởng kinh tế.

Chú trọng tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng giúp kết nối thành thị với nông thôn, miền núi, vùng xa khó khăn. Việt Nam chú trọng phát triển hệ thống y tế và giáo dục, nỗ lực giảm chênh lệch về thu nhập dân cư, đồng thời cải thiện mạng lưới an sinh xã hội nhằm bảo vệ tầng lớp người dân yếu thế dễ bị tổn thương trước các cú sốc tiêu cực.

Thứ hai, phát triển nền kinh tế khởi nghiệp, sáng tạo thông qua các cam kết hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để vun đắp, hiện thực hóa các ý tưởng khởi nghiệp. Việt Nam cam kết bảo hộ các ý tưởng sáng tạo, phát kiến mới trong khởi nghiệp và thực thi các quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ Luật Sở hữu trí tuệ cũng như trong khuôn khổ các FTAs mà Việt Nam tham gia. Tính năng động trong kinh tế, chính sách mở về Internet và sự thuận lợi về kinh doanh đang tạo ra nhiều cơ hội lớn cho các nhà khởi nghiệp ở Việt Nam. Chúng tôi mời gọi sự tham gia của nhiều nhà đầu tư và mong muốn có thêm nhiều quỹ hỗ trợ khởi nghiệp và quỹ đầu tư mạo hiểm hơn nữa hoạt động ở Việt Nam để cùng hòa vào làn sóng khởi nghiệp đang rất hứng khởi ở Việt Nam.

Thứ ba, thực hiện cải cách thuế theo hướng gia tăng cạnh tranh cho nền kinh tế, hướng đến các chuẩn mực minh bạch, công bằng và hiệu quả theo tiêu chuẩn cao của OECD. Hiện tại thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam chỉ 20% và dự kiến sẽ giảm còn 15-17% theo lộ trình cải cách thuế sắp tới để hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp. Ngoài thuế suất cạnh tranh, Việt Nam còn áp dụng nhiều quy định ưu đãi miễn, giảm thuế dành cho nhà đầu tư trong các lĩnh vực ưu tiên như công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, tạo nhiều việc làm…

Thưa Quý vị,

Trong tầm nhìn thập niên tới, Việt Nam sẽ hướng đến một nền kinh tế năng động dựa trên nền tảng sáng tạo. Hội nghị thượng đỉnh kinh doanh Việt Nam hôm nay, với 6 phiên hội thảo chuyên đề về các lĩnh vực: nông nghiệp; tài chính; giáo dục-y tế; cơ sở hạ tầng; đặc khu kinh tế; khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, sẽ mở ra nhiều cơ hội hợp tác, đầu tư tại Việt Nam và chúng ta sẽ cùng nhau hợp tác hướng tới chủ đề APEC 2017: “Tạo động lực mới, cùng vun đắp tương lai chung” của châu Á-Thái Bình Dương vì hoàn bình, ổn định, gắn kết, phát triển năng động và thịnh vượng.

Chúc Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam thành công tốt đẹp.

Xin trân trọng cảm ơn.

 

Thủ tướng báo cáo tình hình KT-XH năm 2017; kế hoạch phát triển KT-XH 2018

(Chinhphu.vn) – Sáng 23/10, tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIV, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã trình bày Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm 2017; kế hoạch phát triển KT-XH 2018. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng giới thiệu toàn văn Báo cáo nói trên.

Clip Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trình bày báo cáo trước Quốc hội

Thưa các đồng chí Lãnh đạo, nguyên Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các vị khách quý,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa đồng bào, cử tri cả nước,

Theo chương trình kỳ họp, Chính phủ đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội các báo cáo về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước (NSNN) và 40 tờ trình, báo cáo chuyên đề khác. Thay mặt Chính phủ, tôi xin trình bày trước Quốc hội và đồng bào, cử tri cả nước những nội dung chủ yếu như sau:

A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017

Tinh thần chỉ đạo xuyên suốt của Chính phủ trong năm 2017 là tập trung thực hiện hiệu quả các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện; theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế và trong nước, có đối sách, biện pháp chỉ đạo phù hợp, kịp thời.

Trước tình hình GDP quý I đạt thấp, Chính phủ kiên định mục tiêu tăng trưởng đề ra, chỉ đạo xây dựng kịch bản hàng quý cho từng ngành, lĩnh vực; thảo luận, thống nhất tại phiên họp Chính phủ hàng tháng và yêu cầu các cấp, các ngành điều hành quyết liệt, có biện pháp cụ thể, phát triển mạnh các ngành nông nghiệp, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, du lịch.

Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo mọi thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; rà soát, hoàn thiện chính sách, pháp luật; đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhất là về tín dụng, thuế, phí, đất đai, đầu tư, xây dựng, môi trường, xuất nhập khẩu; cắt giảm điều kiện kinh doanh; thường xuyên đối thoại, lắng nghe, giải quyết kịp thời hơn kiến nghị của doanh nghiệp, người dân.

Tổ chức Hội nghị Chính phủ với doanh nghiệp và nhiều hội nghị, diễn đàn về phát triển kinh tế ngành, vùng, xúc tiến thương mại, đầu tư, khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, tăng cường thu hút đầu tư tư nhân và nước ngoài. Chỉ đạo rà soát, cắt giảm chi phí, trong đó giảm lãi suất, chi phí vốn, phí BOT và nhiều loại chi phí khác.

Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, quyết liệt chỉ đạo xây dựng Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, phục vụ nhân dân; phòng chống tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm.

Chỉ đạo các cấp, các ngành tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; chủ động phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường; củng cố quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng nhờ nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, tình hình kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực.

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Về kinh tế

Trong điều kiện tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động, Chính phủ đã chỉ đạo theo dõi sát, điều hành chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách khác nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng. Giá tiêu dùng bình quân 9 tháng tăng 3,79%, ước cả năm khoảng 4%, lạm phát cơ bản khoảng 1,6%. Đã thực hiện lộ trình giá thị trường đối với dịch vụ y tế tại tất cả các địa phương. Tín dụng 9 tháng tăng 12%, cơ cấu chuyển dịch tích cực, chất lượng được nâng lên; thanh khoản, an toàn hệ thống được bảo đảm. Mặt bằng lãi suất giảm, trong đó các lĩnh vực ưu tiên giảm 0,5 - 1%. Tỷ giá, thị trường vàng, ngoại tệ, giá trị đồng tiền Việt Nam ổn định[1]; đã mua thêm hơn 6 tỷ USD, nâng mức dự trữ ngoại hối lên trên 45 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

Tập trung chống thất thu NSNN, chuyển giá, giảm nợ đọng thuế[2]; tăng cường kiểm soát, triệt để tiết kiệm chi; ước cả năm tổng thu NSNN tăng 2,3% so với dự toán và tăng 10,1% so với năm 2016; bội chi 3,5% GDP, bằng mức Quốc hội thông qua. Kỷ luật tài chính - NSNN được tăng cường; từng bước chấn chỉnh sai phạm trong sử dụng tài sản công. Nợ công trong giới hạn cho phép và có xu hướng giảm[3].

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký mới, bổ sung và mua cổ phần trong 9 tháng đạt 25,5 tỷ USD, tăng 34,3%; vốn FDI thực hiện đạt kỷ lục 12,5 tỷ USD, tăng 13,4%. Thị trường chứng khoán vượt 800 điểm, cao nhất kể từ năm 2008 (ngày 20/10/2017 đạt 826,84 điểm); mức vốn hóa đạt trên 93% GDP[4]; đưa thị trường chứng khoán phái sinh vào hoạt động. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước cả năm khoảng 33,4% GDP, tăng 12,6%.

Tính đến hết tháng 9, xuất khẩu tăng 20%, trong đó rau quả tăng 43,4%, hạt điều tăng 25,6%, thủy sản tăng 19,8%; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 41,4%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 29,7%; điện thoại và linh kiện tăng 23,6%[5]. Nhập khẩu tăng 22,7%; xuất siêu 328 triệu USD. Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường.

Trong 9 tháng có gần 94 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, tăng 15,4%; tổng vốn đăng ký tăng 43,5%; có trên 21 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại. Tổng vốn đăng ký mới và bổ sung đạt 2,1 triệu tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay. Phần lớn doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và ngày càng tốt hơn[6]. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm 2017 - 2018 tăng 5 bậc, lên thứ 55/137 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tăng trưởng GDP 9 tháng đạt 6,41%[7], ước cả năm đạt 6,7%. Đạt được kết quả này là nhờ cả 3 khu vực tăng trưởng khá đồng đều: Nông nghiệp tăng 2,78% (gấp hơn 4 lần cùng kỳ), trong đó thủy sản tăng cao 5,42%; xuất khẩu nông, lâm, thủy sản ước cả năm đạt 35 tỷ USD. Công nghiệp và xây dựng tăng 7,17%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 12,8%. Khu vực dịch vụ tăng 7,25%, cao nhất kể từ năm 2008. Thu hút khách du lịch đạt kỷ lục, khách quốc tế đạt 9,45 triệu lượt, ước cả năm 13 triệu lượt, tăng 30%; khách trong nước đạt 57,9 triệu lượt, ước cả năm 75 triệu lượt, tăng 12%.

Ban hành và chỉ đạo tích cực triển khai các Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, 5 (khóa XII) về tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh; thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước (DNNN); phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế; Nghị quyết của Bộ Chính trị về cơ cấu lại NSNN, quản lý nợ công và Nghị quyết của Quốc hội về cơ cấu lại nền kinh tế.

Tập trung chỉ đạo thực hiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn 2016 - 2020, ưu tiên các dự án, công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, nhất là giao thông, thủy lợi, năng lượng, y tế. Triển khai Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu; trình Bộ Chính trị cho ý kiến và tổ chức thực hiện Phương án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém; Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu và Đề án tổng thể cơ cấu lại DNNN đến năm 2020. Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền Đề án thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Thực hiện tổng kiểm kê nguồn lực quốc gia. Quyết liệt xử lý 12 dự án, doanh nghiệp yếu kém, thua lỗ, thất thoát và đạt được kết quả bước đầu[8]; đồng thời chỉ đạo các ngành, các cấp tiếp tục rà soát, chấn chỉnh trong toàn bộ hệ thống DNNN.

Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, khuyến khích ứng dụng công nghệ cao, tăng cường hợp tác, liên kết, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản[9]. Việc chuyển đổi một phần đất lúa sang nuôi trồng khác, bước đầu phát huy hiệu quả, nhất là nuôi tôm giá trị tăng khoảng 4,5 lần[10]. Xây dựng nông thôn mới đạt kết quả tích cực; đến nay có 38 đơn vị cấp huyện và 31,5% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, vượt kế hoạch đề ra (31%).

Ban hành và triển khai nhiều Đề án cơ cấu lại các ngành công nghiệp, dịch vụ; khuyến khích đổi mới, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường và phát triển các ngành chế biến, chế tạo[11]. Công nghiệp công nghệ thông tin, truyền thông ngày càng đóng vai trò quan trọng; xuất khẩu điện thoại thông minh và phần mềm tăng mạnh (năm 2017 riêng xuất khẩu phần mềm ước đạt trên 3 tỷ USD); phổ cập wifi miễn phí ở nhiều trung tâm du lịch, thành phố lớn. Tỷ trọng ngành chế biến, chế tạo trong toàn ngành công nghiệp đạt trên 56,1% (năm 2016 là 54,5%). Cơ cấu kinh tế vùng chuyển dịch tích cực; tăng cường liên kết, phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế từng vùng. Xây dựng, trình Quốc hội dự án Luật đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.

Qua thực tiễn chỉ đạo điều hành 9 tháng đầu năm, việc đạt kết quả tăng trưởng khả quan cho thấy, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng bước đầu phát huy hiệu quả, giảm dần phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, nhất là dầu khí[12]. Chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến, đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) năm 2017 ước đạt 44,1%, cao hơn năm 2016 (40,7%) và giai đoạn 2011 - 2015 (33,6%)[13]. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 9/2017 đạt 53,3 điểm, cao nhất trong ASEAN[14].

2. Về văn hóa, xã hội

Các lĩnh vực văn hóa, xã hội được chú trọng và đạt nhiều kết quả. Cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành tổ chức nhiều hoạt động đền ơn, đáp nghĩa thiết thực, có ý nghĩa giáo dục, nhân văn sâu sắc trên phạm vi cả nước nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh - Liệt sỹ. Tích cực giải quyết hồ sơ tồn đọng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người có công. Quan tâm đào tạo nghề, giải quyết việc làm; trong 9 tháng tạo việc làm cho 1,24 triệu người, tăng 3,48%, trong đó đưa gần 93 nghìn người đi lao động ở nước ngoài. Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm có xu hướng giảm dần qua các quý, đến nay còn 2,21%. An sinh xã hội được bảo đảm; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều giảm 1 - 1,5%, còn khoảng 6,7 - 7,2%, riêng các huyện nghèo giảm 4%. Xuất cấp gần 71 nghìn tấn gạo cứu trợ đột xuất và hỗ trợ học sinh vùng khó khăn. Số người tham gia bảo hiểm xã hội đạt 13,5 triệu, bảo hiểm thất nghiệp đạt 11,4 triệu.

Xây dựng, trình Trung ương các Đề án về đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập; bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và công tác dân số trong tình hình mới. Tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh; phát triển y học dân tộc, dược liệu. Phê duyệt chủ trương đầu tư xây dựng 10 bệnh viện mới với quy mô gần 5.500 giường. Đẩy nhanh thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, tỷ lệ bao phủ đạt 83%[15]. Tiếp tục kết nối liên thông giữa các cơ sở khám, chữa bệnh với cơ quan bảo hiểm xã hội, giám định thanh toán bảo hiểm y tế. Đấu thầu mua thuốc tập trung, từng bước giảm giá thuốc[16]. Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp bảo đảm an toàn thực phẩm và đạt kết quả bước đầu[17]; thí điểm thành lập Ban quản lý an toàn thực phẩm và thanh tra chuyên ngành tại một số địa phương.

Đổi mới kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng, bảo đảm nghiêm túc, an toàn, thuận lợi, giảm áp lực và chi phí; 100% tỉnh, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi. Các đoàn học sinh dự thi Olympic quốc tế đạt kết quả cao[18]. Thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nhất là trong thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia; triển khai một số dự án công nghệ cao quy mô lớn. Chỉ số đổi mới sáng tạo (GII) của Việt Nam năm 2017 tăng 12 bậc, xếp thứ 47/127 quốc gia, vùng lãnh thổ, cao nhất từ trước đến nay.

Tập trung chỉ đạo phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Trung ương; phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tôn vinh vai trò đội ngũ văn nghệ sỹ, trí thức. Công tác quản lý, tổ chức lễ hội được chấn chỉnh. Thể dục thể thao có bước tiến bộ; Việt Nam xếp thứ 3 tại Sea Games và thứ 4 tại Para Games với nhiều thành tích nổi bật[19]. Công tác người cao tuổi, gia đình, trẻ em, vì sự tiến bộ của phụ nữ và chính sách dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng được quan tâm chỉ đạo. Cai nghiện ma túy được đổi mới, tăng cường tự nguyện, mở rộng điều trị bằng thuốc thay thế.

Thông tin truyền thông được đẩy mạnh; cung cấp kịp thời các thông tin về chủ trương, chính sách, pháp luật và sự lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo điều hành của Đảng, Nhà nước, các vấn đề dư luận quan tâm và gương người tốt, việc tốt; bước đầu chấn chỉnh, xử lý thông tin sai sự thật, xuyên tạc, kích động, phản động trên mạng xã hội[20].

3. Về tài nguyên, môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu

Tăng cường quản lý tài nguyên, đất đai, khoáng sản. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 96,3%. Thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Chỉ đạo quyết liệt xử lý tình trạng khai thác đá, cát sỏi, chặt phá rừng trái phép. Tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc về công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; đẩy mạnh trồng rừng. Kiểm soát chặt chẽ việc đánh giá tác động môi trường, kiên quyết dừng chủ trương đầu tư đối với các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm cao. Kiểm tra, xử lý nhiều vụ việc vi phạm pháp luật về môi trường. Sản xuất kinh doanh, khai thác thủy sản, du lịch, đời sống người dân sau sự cố ô nhiễm môi trường biển ở 4 tỉnh miền Trung đã ổn định và phát triển trở lại; Nhà máy Formosa Hà Tĩnh đi vào hoạt động và được kiểm soát chặt chẽ về môi trường.

Tổ chức Hội nghị và ban hành Nghị quyết của Chính phủ với nhiều giải pháp cấp bách, chiến lược về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu; tăng cường hợp tác quốc tế về khai thác, sử dụng bền vững nguồn nước xuyên quốc gia và ứng phó biến đổi khí hậu.

Mặc dù chúng ta đã chủ động phòng chống thiên tai, nhưng bão lũ nghiêm trọng vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp, các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp đã phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh thần “tương thân, tương ái”, chia sẻ những mất mát, chung tay hỗ trợ, giúp đồng bào khắc phục hậu quả, sớm ổn định đời sống và sản xuất. Đây là một nghĩa cử cao đẹp cần được gìn giữ và phát huy.

4. Về cải cách hành chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Tập trung xây dựng, hoàn thiện pháp luật, khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành[21]; đã thông qua 12 Luật, ban hành 112 Nghị định, trong đó chú trọng rà soát các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh[22]. Kết nối cơ chế một cửa ASEAN với 4 nước; tổ chức tiếp nhận thông tin, lắng nghe và giải quyết kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp qua Cổng Thông tin điện tử của Chính phủ[23] và của các Bộ ngành, địa phương. Đến nay đã cắt giảm, đơn giản hóa trên 5.000 thủ tục hành chính. Tập trung chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với doanh nghiệp, về nguyên tắc không quá 01 lần/năm. Công khai chỉ số cải cách hành chính của các Bộ ngành, địa phương. Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao; khắc phục một bước tình trạng thiếu kỷ luật kỷ cương, nói không đi đôi với làm[24].

Tập trung chỉ đạo kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; đã cơ bản hoàn thành việc ban hành Nghị định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ. Tiếp tục đẩy mạnh tinh giản biên chế, đã giảm được 3% biên chế công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước[25]. Tập trung chỉ đạo, xử lý những sai phạm của cán bộ, công chức, viên chức trên tinh thần kiên quyết, khách quan, công khai minh bạch; trong đó đã xử lý nghiêm một số cán bộ lãnh đạo và công khai kết luận, tạo niềm tin trong Nhân dân. Thực hiện nghiêm kỷ luật hành chính, cấm uống bia, rượu trong giờ làm việc, buổi trưa; cấm biếu quà lãnh đạo trong dịp Lễ, Tết; cấm sử dụng xe công đi lễ hội; chấn chỉnh việc cấp biển số xanh cho ô tô doanh nghiệp và nhận ô tô do doanh nghiệp biếu tặng.

Nghiêm túc triển khai kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại các cuộc họp Lãnh đạo chủ chốt và các phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Hoàn thiện, trình Quốc hội dự án Luật phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) và dự án Luật tố cáo (sửa đổi). Phát hiện, xử lý nhiều vụ việc tham nhũng, đưa ra xét xử công khai các vụ án lớn, dư luận quan tâm[26]; thu hồi tài sản có tiến bộ[27]. Chú trọng công tác thanh tra, tập trung vào những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực và các vụ việc gây bức xúc. Tổ chức tiếp trên 352 nghìn lượt công dân[28]; giải quyết khoảng 84% vụ khiếu nại, tố cáo.

5. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Tập trung chỉ đạo công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại, phối hợp chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia. Theo dõi sát, xử lý kịp thời, phù hợp các tình huống phát sinh, nâng cao năng lực của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển; tăng cường xây dựng đường tuần tra biên giới.

An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; bảo vệ an toàn tuyệt đối các sự kiện quan trọng của đất nước. Chủ động ngăn chặn mọi âm mưu chống phá, không để bị động, bất ngờ; xử lý nhiều vụ việc phức tạp, gây rối, tụ tập đông người; trấn áp tội phạm. Thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; tai nạn giảm cả 3 tiêu chí[29].

Các hoạt động đối ngoại của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước được tổ chức chu đáo, đạt kết quả thiết thực. Làm tốt vai trò nước chủ nhà, đã tổ chức nhiều hoạt động và đang tích cực chuẩn bị để bảo đảm thành công Tuần lễ Cấp cao APEC 2017. Nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời các diễn biến, tình huống nhạy cảm phát sinh trong quan hệ quốc tế. Xây dựng đường biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác phát triển. Hoàn thành Đề án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới với Lào; tiếp tục thúc đẩy phân giới cắm mốc với Cam-pu-chia. Chủ động tham gia, đóng góp tích cực trên các diễn đàn đa phương và các hội nghị quốc tế quan trọng. Tăng cường bảo hộ công dân, nhất là ngư dân, tàu thuyền bị bắt cóc, bắt giữ[30].

II. HẠN CHẾ, YẾU KÉM

Bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Chất lượng tăng trưởng cải thiện còn chậm; năng suất lao động chưa cao[31]. Một số ngành, lĩnh vực tăng trưởng thấp. Quy định pháp luật còn bất cập, phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công chậm[32]. Nợ công cao; xử lý nợ xấu còn nhiều khó khăn[33]; cổ phần hóa DNNN, thoái vốn đạt thấp. Phát hiện thêm nhiều dự án đầu tư của DNNN chậm tiến độ, hiệu quả thấp, thua lỗ, thất thoát. Tình hình sản xuất kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn. Mặc dù số lượng thành lập mới khá cao nhưng chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh thấp, gắn kết với khu vực FDI còn hạn chế. Tái cơ cấu các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ ở một số vùng, địa phương triển khai chậm, lúng túng, chưa gắn với thị trường. Quản lý phát triển đô thị còn nhiều hạn chế. Nhiều cơ chế, chính sách còn bất cập; điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực rườm rà, phức tạp. Tình trạng buôn lậu, gian lận thương mại, phân bón giả, kém chất lượng, lừa đảo trong bán hàng đa cấp, tín dụng đen... vẫn xảy ra.

Chất lượng giáo dục đại học và nghề nghiệp chuyển biến chậm, chưa thật sự gắn với nhu cầu xã hội. Phát triển thị trường khoa học công nghệ còn khó khăn; số doanh nghiệp tham gia còn ít, quy mô nhỏ. Tình trạng trốn, nợ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế chưa được khắc phục hiệu quả. Dịch sốt xuất huyết, chân tay miệng lan rộng, diễn biến phức tạp. Còn xảy ra sự cố y khoa nghiêm trọng, vi phạm trong quản lý dược, mất an toàn thực phẩm, ngộ độc đông người. Đời sống của đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn. Còn những biểu hiện tiêu cực, suy thoái đạo đức lối sống gây bức xúc, nhất là tình trạng xâm hại trẻ em, phụ nữ, bạo lực gia đình. Vẫn xảy ra nhiều vụ trẻ em bị tai nạn, đuối nước. Công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng còn bất cập; chưa có giải pháp hiệu quả khắc phục tình trạng lợi dụng mạng xã hội đưa tin xấu, độc; còn nhiều sai phạm trong hoạt động báo chí.

Tình trạng chặt phá rừng, khai thác cát sỏi trái phép còn xảy ra ở nhiều nơi; quản lý khai thác khoáng sản, tài nguyên nước còn lãng phí, bất cập. Sạt lở bờ sông, ven biển xảy ra nghiêm trọng. Việc giám sát, thực thi pháp luật về môi trường còn nhiều hạn chế; chưa có giải pháp hữu hiệu khắc phục tình trạng ô nhiễm, xử lý rác thải ở nông thôn, làng nghề, lưu vực sông. Còn xảy ra ngập, úng tại một số thành phố lớn. Thiên tai, bão lũ gây thiệt hại lớn về người và tài sản, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất và đời sống[34].

Thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu; kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa nghiêm. Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh; phối hợp công tác giữa các cấp, các ngành hiệu quả chưa cao. Đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập chưa theo kịp yêu cầu. Còn những yếu kém trong công tác cán bộ; đã phát hiện nhiều vi phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ. Tinh thần, thái độ phục vụ, ý thức trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức còn hạn chế. Chưa chú trọng thanh tra công vụ, xử lý vi phạm chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả quản lý, chỉ đạo điều hành trên một số lĩnh vực ở nhiều Bộ ngành, địa phương còn thấp, nhất là cấp cơ sở. Xây dựng Chính phủ điện tử chậm. Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn xảy ra ở nhiều nơi. Nhiều vụ việc khiếu nại tố cáo chưa được giải quyết dứt điểm, phát sinh điểm nóng, phức tạp, phần lớn liên quan đến đất đai.

Tình hình an ninh, trật tự trên một số địa bàn diễn biến phức tạp. Xảy ra nhiều vụ trọng án, tội phạm ma túy, chống người thi hành công vụ và tai nạn giao thông, cháy nổ nghiêm trọng[35]. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải có chủ trương, biện pháp phù hợp trong thời gian tới.

Trên cơ sở kết quả 9 tháng, với nỗ lực phấn đấu trong thời gian còn lại, dự báo cả năm 2017 chúng ta đạt và vượt toàn bộ 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra[36]. Đây là một thành công lớn của đất nước ta, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế từng bước chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng giảm dần khai thác tài nguyên, chuyển sang công nghiệp chế biến, chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển các ngành dịch vụ, du lịch. Việc đạt được kết quả toàn diện trên các lĩnh vực đã góp phần củng cố niềm tin, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao (Liên Hợp Quốc đánh giá Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam năm 2017 tăng 20 bậc, lên mức 68/157 quốc gia, vùng lãnh thổ[37]).

Từ nay đến cuối năm, chúng ta tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đề ra; không chủ quan trong chỉ đạo điều hành, nhất quán mục tiêu bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tập trung tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh; tổ chức thành công Tuần lễ cấp cao APEC; chú trọng bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

B. KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2018

Năm 2018, tình hình thế giới, khu vực dự báo tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; kinh tế thế giới tăng trưởng cao hơn năm 2017 nhưng không đồng đều và còn nhiều rủi ro[38]; xu hướng bảo hộ vẫn gia tăng. Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tác động trên nhiều phương diện, vừa là cơ hội nhưng cũng vừa là thách thức đối với chúng ta. Ở trong nước, nền kinh tế còn nhiều tồn tại, yếu kém. Dư địa chính sách tài khóa, tiền tệ ngày càng hạn hẹp. Việc cơ cấu lại nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực trọng yếu đòi hỏi nguồn lực và thời gian thực hiện. Nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia và ứng phó biến đổi khí hậu rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn hẹp.

I. MỤC TIÊU TỔNG QUÁT, CHỈ TIÊU CHỦ YẾU

1. Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, tạo chuyển biến rõ nét, thực chất trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thực hiện quyết liệt cải cách hành chính; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật và sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành ở tất cả các ngành, các cấp. Đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Làm tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, xã hội; thực hành dân chủ và công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu; bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển đất nước.

2. Các chỉ tiêu chủ yếu:

a) Về kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 6,5 - 6,7%; Tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%; Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 7 - 8%; Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu dưới 3%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 33 - 34% GDP.

b) Về xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm    1 - 1,3%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58 - 60%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có văn bằng chứng chỉ công nhận kết quả đào tạo đạt 23 - 23,5%; Số giường bệnh trên một vạn dân đạt 26 giường (không tính giường trạm y tế xã); Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 85,2%.

c) Về môi trường: Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 88%; Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,6%.

II. NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tăng cường ổn định vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế

Điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa; nâng cao hiệu quả phân tích, dự báo và ứng phó kịp thời với những biến động trong nước và quốc tế để bảo đảm ổn định vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế, nhất là về lao động, việc làm, NSNN, vốn đầu tư phát triển, xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán, an ninh lương thực và năng lượng. Tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất; bảo đảm vốn tín dụng cho nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực ưu tiên gắn với kiểm soát chặt chẽ, nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống; quản lý hiệu quả thị trường ngoại tệ, vàng; tăng dự trữ ngoại hối.

Thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, siết chặt kỷ luật tài chính - NSNN ở tất cả các ngành, các cấp. Tạo chuyển biến rõ nét trong chống thất thu, nợ đọng thuế, chuyển giá. Triệt để tiết kiệm chi; gắn việc bố trí các dự án, nhiệm vụ chi với khả năng cân đối nguồn lực; khoán chi hành chính, sử dụng xe công; đẩy mạnh đấu thầu, đặt hàng trong cung cấp dịch vụ công. Cơ cấu lại NSNN theo hướng tăng dần tỷ trọng thu nội địa, tỷ trọng chi đầu tư và giảm dần tỷ trọng chi thường xuyên, bảo đảm chi trả nợ; phấn đấu giảm bội chi NSNN; đẩy nhanh cải cách khu vực sự nghiệp công gắn với tinh giản biên chế; tăng cường quản lý và sử dụng hiệu quả nợ công; chú trọng kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay về cho vay lại, khắc phục tình trạng các khoản vay bị tăng chi phí do chậm tiến độ và hạn chế tối đa cấp bảo lãnh mới theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị. Tăng cường quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực NSNN gắn với huy động tối đa các nguồn lực ngoài nhà nước để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện các cơ chế chính sách huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển; ưu tiên bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA; có chính sách phù hợp để huy động nguồn lực ngoại tệ trong xã hội. Quản lý, giám sát chặt chẽ đầu tư công; tăng cường thực hiện đấu thầu qua mạng; kiên quyết phòng, chống lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm các vi phạm. Tập trung chấn chỉnh những bất cập, sai phạm trong các dự án đối tác công tư, nhất là các dự án BOT, BT. Tiếp tục khuyến khích mạnh mẽ đầu tư ngoài nhà nước phát triển hạ tầng, bảo đảm tuân thủ pháp luật, công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người dân. Tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân các nguồn vốn đầu tư. Phát triển ổn định và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường tài chính, chứng khoán, bất động sản.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu gắn với xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Rà soát, đơn giản hóa thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu, nhất là kiểm tra chuyên ngành, thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia; hỗ trợ doanh nghiệp chủ động hội nhập hiệu quả, nâng cao chất lượng thông tin, dự báo thị trường. Kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu; điều hành phù hợp theo hướng giảm nhập siêu, hướng đến cân bằng thương mại bền vững. Phát triển mạnh hệ thống bán lẻ; thúc đẩy tiêu thụ hàng nội địa, có giải pháp phù hợp bảo vệ sản xuất trong nước; triển khai hiệu quả Đề án phát triển thị trường trong nước gắn với Cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam. Tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường đối với dịch vụ y tế, giáo dục, điện... gắn với hỗ trợ đối tượng chính sách, hộ nghèo. Thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý giá cả, thị trường, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại.

Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng theo cơ chế thị trường. Rà soát, cắt giảm điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; cung cấp dịch vụ công trực tuyến, triển khai thực hiện Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 với trên 700 thủ tục hành chính; tăng cường kiểm tra, đôn đốc, giám sát thực hiện theo tinh thần các Nghị quyết 19, 35, 36a của Chính phủ. Phát triển mạnh doanh nghiệp, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; chú trọng thu hút đầu tư nước ngoài sử dụng công nghệ cao và các tập đoàn đa quốc gia gắn với phát triển doanh nghiệp trong nước và công nghiệp hỗ trợ.

Yêu cầu tất cả các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tạo chuyển biến mạnh mẽ; phấn đấu năm 2018 cải thiện căn bản các chỉ tiêu về môi trường kinh doanh, năng lực cạnh tranh, nhất là nhóm các chỉ tiêu còn thấp để tiếp tục nâng cao hơn nữa chỉ số xếp hạng của Việt Nam.

2. Cơ cấu lại kinh tế đồng bộ, toàn diện, thực chất

Tiếp tục tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt, hiệu quả các Chương trình hành động triển khai các Nghị quyết của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quốc hội về tiếp tục cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; cơ cấu lại NSNN và quản lý nợ công; thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN; phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Coi đây là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị, các ngành, các cấp trong năm 2018; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, đánh giá, giám sát và chỉ đạo thực hiện.

Hoàn thiện và triển khai hiệu quả các quy định của pháp luật, tập trung vốn đầu tư công và tăng cường huy động các nguồn lực ngoài nhà nước cho các dự án phát triển hạ tầng trọng điểm, tạo sức lan tỏa và kết nối phát triển. Hoàn thiện định mức kinh tế kỹ thuật trong đầu tư xây dựng; có giải pháp phù hợp, áp dụng ngay để tiết kiệm vốn đầu tư công. Đẩy nhanh tiến độ triển khai, chuẩn bị đầu tư các dự án giao thông trọng điểm[39]. Sớm hoàn thành, đưa vào sử dụng các công trình quan trọng cấp bách, các dự án nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp, dịch vụ, du lịch quy mô lớn.

Thực hiện nghiêm Nghị quyết của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng sau khi được Quốc hội thông qua và Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2020; tạo chuyển biến căn bản về quản trị ngân hàng, hiệu quả và an toàn hoạt động; thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ. Tập trung xử lý dứt điểm các tổ chức tín dụng yếu kém theo nguyên tắc thị trường, không hỗ trợ trực tiếp từ NSNN. Tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát; xử lý nghiêm các vi phạm.

Triển khai quyết liệt việc cơ cấu lại, cổ phần hóa DNNN theo Đề án, tiến độ, lộ trình đề ra; thoái hết vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ theo cơ chế thị trường, xử lý nghiêm các trường hợp cố tình chậm triển khai, trong đó có trách nhiệm của người đứng đầu Bộ ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tạo chuyển biến rõ nét về năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động của tập đoàn, tổng công ty; đăng ký, niêm yết trên thị trường chứng khoán. Đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập; thúc đẩy xã hội hóa, phát triển thị trường dịch vụ công, tạo môi trường bình đẳng giữa đơn vị công lập và ngoài công lập theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII. Công khai, minh bạch, phòng chống thất thoát, tiêu cực, lợi ích nhóm, nhất là trong việc xác định giá trị quyền sử dụng đất, thuê đất, thương hiệu; xử lý nghiêm các sai phạm. Phát triển mạnh về số lượng và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; có giải pháp phù hợp chuyển hộ cá thể sang doanh nghiệp; khuyến khích phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân vững mạnh.

Tập trung tháo gỡ vướng mắc, khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất gắn với cơ cấu lại nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn. Thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; khuyến khích phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thông minh, nông nghiệp hữu cơ, công nghệ sinh học; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và quốc tế. Chú trọng phát triển những sản phẩm có thế mạnh như tôm, cá tra, gạo chất lượng cao, trái cây, rau quả, một số loại cây công nghiệp, dược liệu. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mùa vụ, ngành nghề tại các vùng bị tác động bởi biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới gắn với đổi mới tổ chức sản xuất, nâng cao đời sống của người dân. Phát triển mạnh kinh tế hợp tác, nhân rộng các mô hình hợp tác xã kiểu mới, hiệu quả và phát triển các làng nghề, ngành nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch và bảo vệ môi trường. Có cơ chế để hệ thống chính trị và người dân tham gia kiểm soát, giám sát chất lượng giống, vật tư nông nghiệp, nông sản xuất khẩu, an toàn thực phẩm. Phát triển hiệu quả các ngành kinh tế biển, hỗ trợ diêm dân, ngư dân đánh bắt xa bờ, người dân sinh sống trên các đảo gắn với bảo vệ chủ quyền.

Thúc đẩy cơ cấu lại công nghiệp, tập trung phát triển các ngành chế biến, chế tạo; công nghiệp phục vụ nông nghiệp; công nghiệp chế biến nông sản; sản xuất hàng gia dụng, điện tử; công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghệ thông tin, sinh học, môi trường, công nghiệp hỗ trợ gắn với liên kết chuỗi giá trị của các tập đoàn đa quốc gia, trong đó trọng tâm là đổi mới công nghệ, ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất lao động. Ưu tiên thu hút các dự án đầu tư sử dụng công nghệ cao, sản phẩm cạnh tranh, thân thiện môi trường.

Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao như thông tin truyền thông, tài chính, ngân hàng, logistics; thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ, vận tải tải quốc tế, phần mềm. Phát triển hạ tầng viễn thông và Internet băng rộng hiện đại, đồng bộ. Thực hiện các giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị; tạo chuyển biến rõ nét, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ, xây dựng môi trường du lịch thân thiện, văn hóa, đẩy mạnh liên kết với các hoạt động, sản phẩm văn hóa, nghệ thuật, làng nghề, bảo đảm an ninh an toàn cho du khách và tiếp tục mở rộng diện cấp thị thực điện tử cho các quốc gia, vùng lãnh thổ.

Rà soát, hoàn thiện chính sách, pháp luật để tăng cường liên kết vùng; phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương; nâng cao hiệu quả điều phối vùng. Phát huy mạnh mẽ vai trò của các vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm kinh tế lớn, các thành phố trực thuộc Trung ương. Khẩn trương thành lập 03 đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt sau khi Quốc hội thông qua Luật và các Đề án liên quan.

3. Phát triển hiệu quả văn hóa, xã hội, chăm lo đời sống của người dân

Thực hiện tốt Chỉ thị số 14 của Ban Bí thư, tiếp tục rà soát chế độ, thực hiện hiệu quả chính sách người có công với cách mạng[40]. Đẩy nhanh giải quyết hồ sơ tồn đọng; quan tâm hỗ trợ nhà ở; tìm kiếm, quy tập hài cốt, xác định danh tính liệt sĩ thiếu thông tin. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn và xử lý nghiêm các vi phạm.

Đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục nghề nghiệp; phát triển hệ thống thông tin thị trường lao động. Thực hiện đào tạo lại, đào tạo bổ sung, nhất là cho sinh viên tốt nghiệp ra trường không tìm được việc làm sang những lĩnh vực thiếu lao động, đào tạo cho công nghệ thông tin, du lịch; nghiên cứu, có giải pháp tạo việc làm cho lao động nữ 35 tuổi trở lên mất việc làm. Tập trung thực hiện các giải pháp giảm nghèo bền vững, các chính sách trợ giúp, bảo đảm an sinh xã hội; ưu tiên bố trí NSNN và huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển vùng khó khăn, vùng bị thiên tai và đồng bào dân tộc thiểu số. Bảo đảm an toàn nhà ở cho người dân vùng chịu tác động lớn của bão lũ, sạt lở. Khuyến khích phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho công nhân và thiết chế văn hóa tại khu công nghiệp. Thực hiện nghiêm quy định về an toàn, vệ sinh lao động. Thu hút người lao động tham gia bảo hiểm xã hội, khắc phục tình trạng nợ đóng, nâng cao hiệu quả quản lý quỹ, bảo đảm công khai, minh bạch, bền vững. Nghiên cứu Đề án đổi mới chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trình Trung ương và Quốc hội.

Khẩn trương ban hành Chương trình hành động triển khai các Nghị quyết Trung ương 6 về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và dân số trong tình hình mới. Tăng cường y tế dự phòng, ngăn chặn kịp thời dịch bệnh. Đổi mới mạnh mẽ công tác y tế cơ sở, thực hiện tốt vai trò chăm sóc sức khỏe ban đầu. Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; đưa 5 bệnh viện Trung ương và tuyến cuối vào hoạt động. Chấn chỉnh công tác quản lý dược phẩm, tiếp tục thực hiện cơ chế đấu thầu thuốc tập trung. Đẩy nhanh thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; chống lạm dụng, trục lợi, bảo đảm an toàn, bền vững Quỹ bảo hiểm y tế. Tăng cường kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm, đề cao trách nhiệm của chính quyền địa phương và người đứng đầu. Từng bước kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống y tế từ trung ương đến địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

Tiếp tục triển khai thực hiện Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và Khung trình độ quốc gia. Khẩn trương hoàn thành Khung chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Rà soát, sắp xếp, quy hoạch mạng lưới, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp; đổi mới mạnh mẽ, giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp. Nghiên cứu, dự báo nhu cầu thị trường lao động gắn với Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và công tác kiểm định chất lượng giáo dục. Hoàn thiện và thực hiện hiệu quả chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục đào tạo cho vùng khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách. Khuyến khích mạnh mẽ đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, phát triển thông minh. Chú trọng công tác sở hữu trí tuệ; phát triển thị trường khoa học công nghệ, coi doanh nghiệp là trung tâm đổi mới, sáng tạo. Gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo, nghiên cứu và doanh nghiệp. Xây dựng và khai thác có hiệu quả hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học công nghệ quốc gia và của các Bộ ngành, địa phương; mạng lưới kết nối các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam với thế giới.

Bảo tồn, phát huy các giá trị, di sản văn hóa dân tộc, truyền thống tốt đẹp; khai thác hiệu quả lợi thế, các giá trị bản sắc để phát triển kinh tế - xã hội vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đẩy mạnh xã hội hoá, có cơ chế đặc thù và quan tâm hơn phát triển văn học nghệ thuật, đội ngũ văn nghệ sỹ, trí thức. Triển khai hiệu quả chương trình phát triển công nghiệp văn hóa. Quản lý tốt hơn hoạt động tổ chức lễ hội, biểu diễn nghệ thuật. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh. Đa dạng hóa các hình thức truyền thông, giáo dục, ngăn chặn suy thoái đạo đức, lối sống; phòng, chống bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, phụ nữ. Thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo. Quan tâm chăm lo người cao tuổi, người khuyết tật và công tác gia đình, trẻ em, thanh thiếu niên, bình đẳng giới. Phát triển thể dục thể thao quần chúng; chú trọng thể thao thành tích cao. Quản lý hiệu quả các cơ sở cai nghiện ma túy tập trung và đổi mới quản lý sau cai nghiện.

4. Chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên

Tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật, quản lý chặt chẽ đất đai, nhất là đất nông, lâm trường, bảo đảm hiệu quả, chống tiêu cực, lãng phí. Hoàn thiện, trình Quốc hội dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cải cách thủ tục hành chính liên quan đến đất đai. Điều tra, quy hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên nước. Hợp tác quốc tế, khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững nguồn nước xuyên biên giới. Kiên quyết ngăn chặn, xử lý tình trạng khai thác tài nguyên, khoáng sản, đá, cát sỏi trái phép. Tiếp tục thực hiện chương trình điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển và hải đảo. Rà soát, hoàn thiện và thực hiện đúng quy trình vận hành liên hồ chứa, pháp luật về đê điều.

Thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và đóng cửa rừng tự nhiên; kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, đất lâm nghiệp. Cải thiện chất lượng môi trường và xử lý ô nhiễm, nhất là tại các làng nghề, khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu dân cư tập trung ở nông thôn, các lưu vực sông, hồ, vùng ven biển, cơ sở sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm nặng. Xử lý hiệu quả rác thải nông thôn. Nâng cao chất lượng công tác thẩm định, kiểm soát chặt chẽ việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư. Tăng cường năng lực dự báo, cảnh báo và chủ động phòng chống, giảm nhẹ thiên tai. Quy hoạch tổng thể, xây dựng mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia. Ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, thực hiện tăng trưởng xanh và cam kết COP-21. Triển khai đồng bộ các giải pháp mà Chính phủ đã có Nghị quyết để phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng biến đổi khí hậu.

5. Xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Triển khai Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Đổi mới phương thức, lề lối làm việc, tăng cường ý thức trách nhiệm, tinh thần phục vụ nhân dân, nhất là ở cấp cơ sở; thường xuyên kiểm tra, giám sát, đề cao trách nhiệm giải trình, xử lý nghiêm vi phạm. Tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế, xác định rõ vị trí việc làm, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức, viên chức. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử. Phát huy dân chủ cơ sở, tạo chuyển biến tích cực; tăng cường tương tác giữa chính quyền với người dân, doanh nghiệp thông qua cơ chế một cửa, một cửa liên thông; nhân rộng mô hình trung tâm hành chính công hoạt động hiệu quả, cung cấp dịch vụ công trực tuyến; xử lý dứt điểm và công khai kết quả xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp. Đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm công khai, minh bạch, cải tiến quy trình, rút ngắn thời gian, giảm chi phí.

Quản lý xã hội tốt hơn; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ được giao, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong thực thi công vụ; nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức, đặc biệt là ở các cơ quan trực tiếp giải quyết công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp. Các cơ quan đều phải có quy chế làm việc công khai, minh bạch, có cơ chế giám sát thực hiện. Phân công, phân nhiệm rõ ràng, khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm. Kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật, sách nhiễu người dân và doanh nghiệp. Thực hiện thường xuyên, hiệu quả hoạt động thanh tra trong thực thi công vụ, nhất là công tác cán bộ, kỷ luật hành chính.

Yêu cầu tất cả các cơ quan, đơn vị thực hiện nghiêm các quy định về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; có cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm, công khai các vi phạm. Nâng cao hiệu quả thanh tra, tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng. Người đứng đầu chính quyền các cấp thực hiện đúng các quy định của Luật Tiếp công dân. Các cơ quan, địa phương phải rà soát, xử lý kịp thời, dứt điểm các khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ việc phức tạp kéo dài. Tăng cường phòng chống, phát hiện, xử lý nghiêm các vụ việc tham nhũng; đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, được xã hội quan tâm; thu hồi tối đa tài sản bị thất thoát. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Quy chế phối hợp công tác giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, nhất là trong đấu tranh phòng chống tham nhũng.

6. Giữ vững độc lập, chủ quyền, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế

Thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, bảo đảm lợi ích quốc gia dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vị thế của đất nước. Củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân. Đẩy mạnh đối ngoại về quốc phòng, an ninh, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội.

Giữ vững an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các thế lực thù địch; nắm chắc tình hình, kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh. Tập trung phòng chống, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm, nhất là các tội phạm đặc biệt nguy hiểm, tội phạm ma túy, có tổ chức, chống người thi hành công vụ, tham nhũng, tội phạm xuyên quốc gia, sử dụng công nghệ cao. Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông và phòng chống cháy nổ. Sẵn sàng ứng phó kịp thời, xử lý hiệu quả các sự cố, thiên tai và cứu nạn, cứu hộ.

Phối hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia; theo dõi sát tình hình, chủ động có giải pháp phù hợp, kịp thời. Phấn đấu đạt kết quả thực chất trong giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ; tăng cường quản lý, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác. Tổ chức tốt các hoạt động đối ngoại song phương, đa phương. Thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập quốc tế; đẩy mạnh công tác truyền thông về hội nhập; nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế; khai thác hiệu quả các Hiệp định FTA. Làm tốt công tác bảo hộ công dân, tạo điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp xây dựng đất nước.

7. Làm tốt hơn nữa công tác thông tin truyền thông, tạo đồng thuận xã hội

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí, thực hiện nghiêm quy chế phát ngôn, cung cấp đầy đủ kịp thời, chính xác thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của Đảng, Nhà nước và những vấn đề dư luận quan tâm. Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng; có phương án ứng phó, khắc phục kịp thời các sự cố. Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc; xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng dân chủ, đưa tin bịa đặt, sai sự thật, kích động, gây bất ổn xã hội.

Làm tốt công tác dân vận, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội trong vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần tạo đồng thuận xã hội.

Thưa Quốc hội,

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức, nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề. Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành  Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Chính phủ sẽ quyết liệt hành động, ra sức khắc phục hạn chế, yếu kém, nỗ lực phấn đấu đạt mức cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu năm 2017 và thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2018.

Chính phủ trân trọng đề nghị và mong nhận được sự ủng hộ, giám sát của Quốc hội, Chủ tịch nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân và đồng bào, cử tri cả nước.

Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội./.


[1] Theo đánh giá của Hãng tin Bloomberg, đồng tiền Việt Nam là một trong những đồng tiền ổn định nhất châu Á.

[2] Tính đến 30/9/2017, đã đôn đốc thu nợ được 35.944 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 73,7% số tiền thuế nợ tại thời điểm 31/12/2016 chuyển sang năm 2017, tăng 13,1% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó thu bằng biện pháp đôn đốc nợ là 25.036 tỷ đồng, bằng biện pháp cưỡng chế nợ là 10.908 tỷ đồng. Số truy thu thuế từ chống chuyển giá năm 2017 ước đạt khoảng 15 - 16 nghìn tỷ đồng.

[3] Trong đó, dư nợ công khoảng 62,6%, nợ Chính phủ 51,8%, nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 45,2% GDP.

[4] Trong đó, thị trường cổ phiếu là 61%, thị trường trái phiếu đạt 32%.

[5] Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tháng 8 và tháng 9 đều đạt trên 19 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay.

[6] Theo Kết quả điều tra về xu hướng kinh doanh quý III, quý IV/2017 của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[7] Trong đó, GDP quý I tăng 5,15%, quý II tăng 6,28%, quý III tăng 7,46%.

[8] Trong đó, tập trung thực hiện các giải pháp tiết giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm; đến nay 04 nhà máy phân bón đã cải thiện đáng kể hiệu quả hoạt động, phụ tải đạt khoảng 75 - 90%; Nhà máy thép Việt Trung 9 tháng lãi khoảng 163 tỷ đồng.

[9] Tổ chức Hội nghị nông nghiệp công nghệ cao, Hội nghị toàn quốc phát triển ngành tôm, Hội nghị phát triển ngành hàng lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long, Hội nghị triển khai Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016 - 2020. Lãnh đạo Chính phủ làm việc với nhiều địa phương thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ thích ứng với biến đổi khí hậu; nhân rộng các mô hình hiệu quả. Tập trung thực hiện các Chỉ thị của  Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý vật tư nông nghiệp và kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi sử dụng đất lâm nghiệp.

[10] Trong 9 tháng, sản lượng tôm đạt 468 nghìn tấn, tăng 27,1%; sản lượng cá tra đạt 998 nghìn tấn, tăng 9,8%; kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 5,9 tỷ USD, tăng 18,1%.

[11] Trong đó có Đề án ứng dụng khoa học và công nghệ ngành công thương đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030; Đề án tái cơ cấu ngành điện giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến  năm 2025; Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ từ năm 2016 đến năm 2025; Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường đến năm 2025; Đề án đổi mới và hiện đại hóa công nghệ ngành công nghiệp khai khoáng đến năm 2025. Ban hành danh mục công nghệ cao ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao khuyến khích phát triển; Đề án đẩy mạnh xử lý, sử dụng tro, xỉ, thạch cao của các nhà máy nhiệt điện, nhà máy hoá chất, phân bón làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng và trong các công trình xây dựng...

[12] Dự kiến năm 2017, khai thác dầu thô đạt 13,28 triệu tấn, giảm nhiều so với những năm trước (năm 2016 đạt 15,2 triệu tấn, năm 2015 đạt 16,88 triệu tấn).

[13] Theo tính toán của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

[14] Theo Nikkei - IHS Markit, Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 9/2017 của Việt Nam tăng lên 53,3 điểm, thể hiện điều kiện kinh doanh tiếp tục cải thiện mạnh mẽ. Đây là mức tăng mạnh và cao nhất trong các nước ASEAN (Philippines là 50,8; Indonesia là 50,4; Thái Lan là 50,3; Malaysia là 49,9; Myanmar là 49,4 và Singapore là 48,6).

[15] Đến nay, hầu hết các đối tượng chính sách xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn đã có bảo hiểm y tế; cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trên 34,3 triệu người, hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho trên 15,1 triệu người.

[16] Thông qua thực hiện đấu thầu mua thuốc tập trung, giá thuốc biệt dược giảm 5%; thuốc generic giảm khoảng 30%.

[17] Ngộ độc thực phẩm giảm 16% về số vụ, 15% về số người chết và 13% số người nhập viện.

[18] Đạt tổng số 31 huy chương, trong đó có 14 Huy chương Vàng.

[19] Tổng số 168 huy chương các loại: Với 58 Huy chương Vàng, 50 Huy chương Bạc và  60 Huy chương đồng.

[20] Đến nay, YouTube đã gỡ bỏ trên 4,4 nghìn clip có nội dung xấu, độc hại, Facebook đã gỡ bỏ 678 tài khoản và bài viết vi phạm, trong đó có 110 tài khoản giả mạo, 394 bài viết và tài khoản kinh doanh trái phép, 174 bài viết và tài khoản bôi nhọ, xuyên tạc cá nhân, tập thể.

[21] Hoàn thiện các dự án Luật Quy hoạch, Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt, Luật Cạnh tranh, Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức tín dụng. Chính phủ chỉ đạo rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định trong các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, đất đai, xây dựng, nhà ở, đầu tư công để thực hiện các Nghị quyết Trung ương 5, khóa XII. Đến nay, không còn nợ đọng văn bản quy định chi tiết thi hành Luật, Pháp lệnh đã có hiệu lực thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

[22] Đến nay, Chính phủ đã ban hành 112 Nghị định và 98 Nghị quyết; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 44 Quyết định quy phạm pháp luật; trình Quốc hội thông qua 6 Nghị quyết và 12 Bộ luật, Luật tại Kỳ họp thứ 3. Tại kỳ họp thứ 4, dự kiến trình Quốc hội thông qua 6 dự án luật, cho ý kiến 09 dự án luật.

[23] Kể từ khi vận hành (tháng 4/2017) đến nay, Hệ thống tiếp nhận, trả lời kiến nghị của người dân qua Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đã tiếp nhận 4.449 phản ánh, kiến nghị, chuyển 901 phản ánh của doanh nghiệp đến các Bộ ngành, địa phương xem xét, trả lời.

Kể từ khi đi vào vận hành (tháng 10/2016) đến nay, Hệ thống tiếp nhận trả lời kiến nghị của doanh nghiệp qua Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đã nhận được 1.146 phản ánh, kiến nghị đã phân loại chuyển 945 phản ánh, kiến nghị đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét, xử lý; các Bộ, ngành, địa phương đã giải quyết, trả lời 764/945 phản ánh, kiến nghị đạt gần 81%.

[24] Tháng 8/2016, nhiệm vụ quá hạn trên 25%; đến hết tháng 9/2017 chỉ còn 2,18%.

[25] Sau 2 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, từ năm 2015 đến nay đã tinh giản biên chế được gần 30 nghìn người.

[26] Từ ngày 01/10/2016 đến 31/7/2017, đã phát hiện, khởi tố điều tra 190 vụ án, 399 bị can về tội tham nhũng và 17 vụ, 90 bị can phạm tội về chức vụ.

[27] Thu hồi tài sản tham nhũng trong quá trình thực hiện các bản án có hiệu lực tăng 12,2% so với cùng kỳ.

[28] Giảm 8,5% về số lượt; 8,9% về số đơn và 14,8% về số vụ so với cùng kỳ.

[29] Số vụ tai nạn giao thông giảm 6,9%, số người chết giảm 4,9%, số người bị thương giảm 12,7%.

[30] Thực hiện tốt công tác bảo hộ công dân đối với hơn 5.000 trường hợp là ngư dân, người lao động gặp khó khăn; triển khai nhiều biện pháp thúc đẩy để kiều bào sớm ổn định địa vị pháp lý, hội nhập và làm ăn ổn định ở nước sở tại.

[31] Năng suất lao động xã hội của toàn nền kinh tế tăng 5,87%, tuy cao hơn so với năm 2016 nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng của nền kinh tế và cải thiện sức cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước trong khu vực.

[32] Một số dự án công nghiệp và giao thông chậm tiến độ: các Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, Long Phú 1, Sông Hậu 1, Dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông, Dự án đường sắt đô thị Nhổn - Ga Hà Nội, Dự án metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên...

[33] Tính đến cuối tháng 8 năm 2017, tỷ lệ nợ xấu là 2,46%. Lũy kế từ khi hoạt động đến cuối tháng 7/2017, VAMC đã mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng với giá mua (mệnh giá trái phiếu đặc biệt) là trên 261 nghìn tỷ đồng, trong đó đã thu hồi được trên 60 nghìn tỷ đồng; trong 9 tháng đầu năm 2017 đã xử lý được khoảng 16 nghìn tỷ đồng. Trong 8 tháng đầu năm 2017, toàn hệ thống đã xử lý được trên 57 nghìn tỷ đồng.

[34] Tính chung 9 tháng, thiên tai đã làm 245 người chết và mất tích, 317 người bị thương; trên 4 nghìn nhà bị sập đổ, cuốn trôi, trên 270 nghìn nhà bị hư hại, tốc mái; trên 300 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập, thiệt hại; trên 71 nghìn ha cây công nghiệp, cây ăn quả bị thiệt hại; gần 300 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; trên 120 nghìn m đê, kè và gần 160 nghìn m kênh mương bị sạt lở; trên 2 triệu m3 đất đá thủy lợi, giao thông bị sạt trượt,… Tổng thiệt hại ước tính gần 26 nghìn tỷ đồng.

[35] Tội phạm chống người thi hành công vụ tuy giảm nhẹ 0,68% nhưng tính chất, mức độ manh động, coi thường pháp luật gia tăng. Đã xảy ra trên 3,3 nghìn vụ cháy, tăng 22,4%, làm chết 89 người, bị thương 140 người, gây thiệt hại 1.345 tỷ đồng và 30 vụ nổ, chết 26 người, bị thương 63 người, thiệt hại 1.612 tỷ đồng.

[36] Trong đó, 05 chỉ tiêu ước vượt kế hoạch là: (1) Tỷ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu 1,5% (kế hoạch 3,5%); (2) Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội so với GDP 33,42% (kế hoạch 31,5%); (3) Tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu 14,4% (kế hoạch 6 - 7%); (4) Số giường bệnh trên 1 vạn dân là 25,7 giường (kế hoạch 25,5 giường); (5) Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế 83% (kế hoạch 82,2%).

Có 08 chỉ tiêu ước đạt kế hoạch là: (1) Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6,7%; (2) Tốc độ tăng chỉ số tăng giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4%; (3) Giảm tỷ suất tiêu hao năng lượng trên một đơn vị GDP 1,5%; (4) Giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều                 1 - 1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; (5) Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%;  (6) Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế đạt 56% (kế hoạch 55 - 57%); (7) Tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường 87%; (8) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,45%.

[37] Chỉ số phát triển bền vững (SDG Index) của Việt Nam năm 2017 hạng 68/157, xếp thứ 4 trong các nước ASEAN (Indonesia hạng 100; Philippines hạng 93, Singaprore hạng 61, Thái Lan hạng 55, Malaysia hạng 54).

[38] Theo dự báo của Liên Hợp quốc (UN) và Ngân hàng Thế giới (WB), tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2018 khoảng 2,9% cao hơn năm 2017 là 2,7%; Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2018 khoảng 3,6%, cao hơn năm 2017 là 3,5%.

[39] Trong đó có Cảng hàng không quốc tế Long Thành, điều chỉnh quy hoạch mở rộng Cảng hàng không Tân Sơn Nhất; tiếp tục triển khai theo tiến độ một số đoạn trọng điểm của Tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông và một số đoạn quan trọng trên Tuyến đường bộ ven biển; hoàn thiện báo cáo nghiên cứu tiền khả thi tuyến đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.

[40] Nghiên cứu, thực hiện chế độ, chính sách đối với người Việt Nam có công với cách mạng, người tham gia kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, người có công giúp đỡ cách mạng Việt Nam đang định cư ở nước ngoài; chính sách đối với người bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học thế hệ thứ 3 của người tham gia kháng chiến bị ảnh hưởng bởi chất độc hóa học; người tham gia kháng chiến trong giai đoạn 1974 - 1975 nhưng chưa đủ thời gian được cấp Huy chương.

 

Nhân sự cấp cao được bầu tại kỳ họp Quốc hội thứ 11 - QH13

(Chinhphu.vn) –  Tính đến ngày 9/4, tại kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII đã bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội; 3 Phó Thủ tướng Chính phủ, 18 Bộ trưởng và thành viên Chính phủ; Phó Chủ tịch nước; 2 Phó Chủ tịch Quốc hội; Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; 7 Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm 5 Ủy ban của Quốc hội và Tổng Kiểm toán Nhà nước.

* CHỦ TỊCH NƯỚC


Chủ tịch nước Trần Đại Quang tuyên thệ nhậm chức.

 

Chủ tịch nước Trần Đại Quang

Sáng 2/4, Quốc hội tiến hành bỏ phiếu kín bầu chức danh Chủ tịch nước và thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch nước.

Ông Trần Đại Quang đã trúng cử chức danh Chủ tịch nước với đa số phiếu tán thành.

Ngay sau đó, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch nước đối với ông Trần Đại Quang với tỉ lệ  93,12% trên tổng số ĐBQH tán thành.

Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh

Sáng 8/4, Quốc hội đã bầu Phó Chủ tịch nước bà Đặng Thị Ngọc Thịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, đại biểu Quốc hội khóa XIII, giữ chức Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

CHÍNH PHỦ


Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tuyên thệ nhậm chức.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc

Sáng 7/4, Quốc hội khóa XIII đã bầu ông Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ giữ chức Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ông Nguyễn Xuân Phúc đã trúng cử chức danh Thủ tướng Chính phủ với đa số phiếu tán thành.

Với tỷ lệ 96,15% đại biểu Quốc hội tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu ông Nguyễn Xuân Phúc giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ. 

Các tân Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, thành viên Chính phủ

Sáng 9/4, với đa số phiếu tán thành Quốc hội khóa XIII đã bỏ phiếu phê chuẩn việc bổ nhiệm 3 Phó Thủ tướng và 18 Bộ trưởng, thành viên Chính phủ.


Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chúc mừng các tân Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, thành viên Chính phủ. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Ba tân Phó Thủ tướng Chính phủ

 

1. Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình

 

2. Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ

 

3. Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng

 

Các tân Bộ trưởng và thành viên Chính phủ

 

1. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch

 

2. Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm

 

3. Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân

 

4. Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long

 

5. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Chí Dũng

 

6. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh

 

7. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trương Quang Nghĩa

 

8. Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà

 

9. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà

 

10. Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông: Trương Minh Tuấn

 

11. Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung

 

12. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao & Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện

 

13. Bộ trưởng Bộ Khoa học & Công nghệ Chu Ngọc Anh

 

14. Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo Phùng Xuân Nhạ

 

15. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến

 

16. Tổng Thanh tra Chính phủ Phan Văn Sáu

 

17. Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng

 

18. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng

 

QUỐC HỘI

 

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tuyên thệ nhậm chức.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Sáng 31/3, Quốc hội đã tiến hành bỏ phiếu kín bầu chức danh Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Quốc gia và thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Quốc gia.

 

 

 

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân đã trúng cử chức danh Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Quốc gia với đa số phiếu tán thành.

 

 

 

Ngay sau đó, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Bầu cử Quốc gia đối với bà Nguyễn Thị Kim Ngân với tỉ lệ 96,15% trên tổng số ĐBQH tán thành.

Chủ tich Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chúc mừng Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ và Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển.

 

Hai Phó Chủ tịch Quốc hội

Chiều 4/4, Quốc hội tiến hành bầu 2 Phó Chủ tịch Quốc hội và 7 Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Ông Đỗ Bá Tỵ, Ủy viên Trung ương Đảng, Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội với 459 phiếu tán thành, bằng 92,91% tổng số ĐBQH.

Ông Phùng Quốc Hiển, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu làm Phó Chủ tịch Quốc hội với 433 phiếu tán thành, bằng 87,65% tổng số ĐBQH.

Với 90,49% tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu một số Phó Chủ tịch Quốc hội. Theo nghị quyết này, ông Đỗ Bá Tỵ và ông Phùng Quốc Hiển làm Phó Chủ tịch Quốc hội ngay khi Quốc hội thông qua Nghị quyết.

Chủ tich Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chúc mừng 7 tân Ủy viên UBTVQH khóa XIII.

 

7 Ủy viên UBTVQH khóa XIII

1. Ông Hà Ngọc Chiến

2. Ông Trần Văn Túy

3. Ông Võ Trọng Việt

4. Ông Nguyễn Đức Hải

5. Bà Lê Thị Nga

6. Bà Nguyễn Thúy Anh

7. Bà Nguyễn Thanh Hải

Với tỉ lệ 84,62% tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bầu một số Ủy viên UBTVQH khóa XIII. Căn cứ nội quy kỳ họp các ông bà Hà Ngọc Chiến, Trần Văn Túy, Võ Trọng Việt, Nguyễn Đức HảiLê Thị Nga, Nguyễn Thúy Anh Nguyễn Thanh Hải là Ủy viên UBTVQH khóa XIII.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân chúc mừng Chủ tịch HĐDT, Chủ nhiệm một số Ủy ban và Tổng Kiểm toán Nhà nước

 

* Chiều 5/4, Quốc hội tiến hành bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm 5 Ủy ban của Quốc hội và Tổng Kiểm toán Nhà nước. Kết quả kiểm phiếu cụ thể như sau:

 

1. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội,Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Hà Ngọc Chiếnđược bầu giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội với 474/485 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 95,95%.

2. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội,Thượng tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Trọng Việt được bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội với 458/485 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 92,71%.

 

3. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội,Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương Nguyễn Đức Hảiđược bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội với 447/485 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 90,49%. 

4. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội,Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga được bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội với 414/485 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 83,81%.

 

5. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội,Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh được bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội với 334/485 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 67,61%. 

6. Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội,Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải được bầu giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội với 296/484 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 59,92%.

 

7. Quốc hội cũng đã bầu Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Nghệ An Hồ Đức Phớc giữ chức vụ Tổng Kiểm toán Nhà nước với 417/485 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 81,41%.

 

Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, một số Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội với 452/454 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm  91,50%, có 2 đại biểu không tán thành, chiếm 0,40%.

 

Quốc hội cũng thông qua Nghị quyết bầu Tổng kiểm toán Nhà nước với 452/455 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 91,50 %, có 3 đại biểu không tán thành, chiếm 0,61%.

* CHÁNH ÁN TANDTC, VIỆN TRƯỞNG VKSNDTC

Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình tuyên thệ nhậm chức.

Sáng 8/4, Quốc hội đã tiến hành bầu  Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

 

 

Theo kết quả kiểm phiếu, ông Nguyễn Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, đại biểu Quốc hội khóa XIII nhận được 472 phiếu tán thành (chiếm 95,5%), bầu giữ chức Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

 

 

 

Với 316 đại biểu tán thành (chiếm 63,97%), ông Lê Minh Trí , Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, Phó Trưởng ban Nội chính Trung ương, được Quốc hội bầu giữ chức Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

 

 

 

Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết bầu Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với 90,49% đại biểu tán thành và Nghị quyết bầu Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao với 76,11% đại biểu tán thành.

* Theo chương trình kỳ họp, ngày 12/4, Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia về danh sách một số Phó Chủ tịch và một số Ủy viên Hội đồng Bầu cử Quốc gia.

Cùng ngày, Quốc hội tiến hành phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách một số Phó Chủ tịch và một số Ủy viên Hội đồng quốc phòng-an ninh.


 

Các thành viên Chính phủ

(Chinhphu.vn) - Ngày 9/4, Quốc hội khóa XIII đã bỏ phiếu phê chuẩn việc bổ nhiệm 3 Phó Thủ tướng; 18 Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. Dưới đây là các thành viên mới của Chính phủ vừa được Quốc hội khóa XIII phê chuẩn việc bổ nhiệm tại kỳ họp thứ 11 của Quốc hội.

CHÍNH PHỦ VIỆT NAM ĐƯƠNG NHIỆM (sau kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII)

Clip: Quốc hội phê chuẩn bổ nhiệm 21 thành viên Chính phủ

Đồng chí Trương Hòa Bình.

* Phó Thủ tướng Chính phủ Trương Hòa Bình, sinh năm 1955; quê quán tỉnh Long An; Thạc sĩ Luật, Cao cấp Lý luận chính trị.

Đồng chí Trương Hòa Bình là Ủy viên Trung ương Đảng khóa X, XI, XII; Bí thư Trung ương Đảng khóa XI; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII; đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII, XIII.

Đồng chí Trương Hòa Bình từng đảm nhiệm các chức vụ: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng công an nhân dân; Thứ trưởng Bộ Công an; Bí thư Ban Cán sự đảng, Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao.

Đồng chí Vương Đình Huệ.

 

* Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, sinh năm 1957; quê quán tỉnh Nghệ An; GS.TS; Cao cấp Lý luận chính trị.

Đồng chí Vương Đình Huệ là Ủy viên Trung ương Đảng khoá X, XI, XII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII; đại biểu Quốc hội khoá XIII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ:  Phó Tổng kiểm toán Nhà nước; Tổng Kiểm toán Nhà nước; Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước; Trưởng Ban Kinh tế Trung ương.

Đồng chí Trịnh Đình Dũng.

 

* Phó Thủ tướng Chính phủ Trịnh Đình Dũng, sinh năm 1956; quê quán thành phố Hà Nội; Thạc sĩ Kinh tế, Cử nhân lý luận chính trị;

Đồng chí Trịnh Đình Dũng là Ủy viên Trung ương Đảng khoá X, XI, XII; đại biểu Quốc hội khoá XI, XII.

Đồng chí Trịnh Đình Dũng từng đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc Sở Xây dựng, Chủ tịch Hội Kiến trúc sư tỉnh Vĩnh Phúc; Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Vĩnh Phúc; Thứ trưởng Bộ Xây dựng; Bộ trưởng Bộ Xây dựng.

Đồng chí Ngô Xuân Lịch

 

* Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, sinh năm 1954; quê quán tỉnh Hà Nam; là Ủy viên Trung ương Đảng khoá X, XI, XII; Bí thư Trung ương Đảng khoá XI; Ủy viên Bộ Chính trị khoá XII; đại biểu Quốc hội khoá XIII.

Đồng chí Ngô Xuân Lịch từng đảm nhiệm các chức vụ: Cục trưởng Cục Chính sách, Tổng cục Chính trị; Chủ nhiệm chính trị Quân khu 3; Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 3; Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đồng chí Tô Lâm.

 

* Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm, sinh năm 1957; quê quán tỉnh Hưng Yên; tốt nghiệp Đại học An ninh, GS.TS Luật; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XII.

Đồng chí Tô Lâm từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị I; Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị III; Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh I; Thứ trưởng Bộ Công an.

Đồng chí Lê Vĩnh Tân

 

* Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân sinh năm 1958; quê quán tỉnh Đồng Tháp; Kỹ sư Cơ khí nông nghiệp, Cử nhân Chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII.

Đồng chí Lê Vĩnh Tân từng đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc Sở Công nghiệp; Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Lấp Vò; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Đồng Tháp; Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương; Thứ trưởng Bộ Nội vụ.


Đồng chí Lê Thành Long

 

* Bộ trưởng Bộ Tư pháp Lê Thành Long sinh năm 1963 tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa; Tiến sĩ Luật, Cao cấp Chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí Lê Thành Long từng đảm nhiệm các chức vụ: Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp; Thứ trưởng Bộ tư pháp; Phó Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh; Thứ trưởng Bộ Tư pháp.

Đồng chí Nguyễn Chí Dũng.

* Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng sinh năm 1960, quê quán tỉnh Hà Tĩnh; Tiến sĩ, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII.

Đồng chí Nguyễn Chí Dũng từng đảm nhiệm các chức vụ: Vụ trưởng Vụ Thương mại và dịch vụ; Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Phó Bí thư Tỉnh ủy Ninh Thuận; Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Ninh Thuận; Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư.


Đồng chí Trần Tuấn Anh

 

* Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh sinh năm 1964, quê quán tỉnh Quảng Ngãi; Tiến sĩ, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí Trần Tuấn Anh từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách công nghiệp, Bộ Công Thương; Vụ trưởng Vụ Tổng hợp kinh tế, Giám đốc Quỹ Ngoại giao phục vụ kinh tế, Bộ Ngoại giao; Tổng Lãnh sự Việt Nam tại San Francisco (Mỹ); Phó Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ; Thứ trưởng Bộ Công Thương, kiêm Phó trưởng Ban Kinh tế Trung ương.

Đồng chí Trương Quang Nghĩa.

 

* Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trương Quang Nghĩa, sinh năm 1958, quê quán tỉnh Quảng Nam; Thạc sĩ quản trị kinh doanh, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc Công ty Cơ giới lắp máy và xây dựng thuộc Tổng công ty Vinaconex; Tổng Giám đốc, Phó Bí thư Đảng ủy Tổng công ty Vinaconex; Phó Bí thư Thành ủy Đà Nẵng; Bí thư Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương; Bí thư Tỉnh ủy Sơn La; Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương.

Đồng chí Phạm Hồng Hà.

 

* Bộ trưởng Bộ Xây dựng Phạm Hồng Hà sinh năm 1958, quê quán tỉnh Nam Định; Thạc sĩ kinh tế, Cử nhân Chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII, Đại biểu Quốc hội khóa XIII.

Đồng chí  từng đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định; Bí thư Thành ủy Nam Định; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa XIII tỉnh Nam Định; Thứ trưởng Bộ Xây dựng.

Đồng chí Trần Hồng Hà.

 

* Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà sinh năm 1963, quê quán tỉnh Hà Tĩnh; Tiến sĩ, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XI, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường; Phó Tổng cục trưởng phụ trách Tổng cục Môi trường; Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; Phó Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa–Vũng Tàu; Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Đồng chí Trương Minh Tuấn.

 

* Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn sinh năm 1960, quê quán tỉnh Lâm Đồng; Tiến sĩ Chính trị học, Cử nhân lý luận chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Vụ trưởng, Trưởng cơ quan Thường trực Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương tại Thành phố Đà Nẵng; Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác tư tưởng, Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương; Giám đốc Trung tâm Thông tin công tác Tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương; Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.

Đồng chí Đào Ngọc Dung.

 

* Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung, sinh năm 1962, quê quán tỉnh Hà Nam; Thạc sĩ Quản lý hành chính công, Cử nhân luật, Cử nhân chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa X, XI, XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh; Chủ nhiệm Ủy ban Quốc gia về thanh niên Việt Nam; Bí thư Ban Cán sự đảng Ngoài nước; Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Bắc; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái; Bí thư Đảng ủy khối các cơ quan Trung ương.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Thiện.

* Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiệnsinh năm 1959, quê quán tỉnh Thừa Thiên-Huế; Tiến sĩ, Cử nhân chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII; Đại biểu Quốc hội khóa XII, XIII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Chánh Văn phòng Tỉnh uỷ; Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Thừa Thiên-Huế; Phó Chủ tịch UBND tỉnh; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên-Huế; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên-Huế; Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh Thừa Thiên-Huế; Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

Đồng chí Chu Ngọc Anh

* Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh sinh năm 1965, quê quán thành phố Hà Nội; Tiến sĩ, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XI, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Phó Vụ trưởng Vụ Công nghệ cao; Cục trưởng Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ; Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; Phó Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ; Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ; Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ.

Đồng chí Phùng Xuân Nhạ.

 

* Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ sinh năm 1963, quê quán tỉnh Hưng Yên; Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa XI, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Giảng viên, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế phát triển; Phó Chủ nhiệm Khoa Kinh tế - ĐHQGHN, kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế phát triển; Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế-ĐHQGHN; Phó Giám đốc ĐHQGHN; Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng, Giám đốc ĐHQGHN.

Đồng chí Đỗ Văn Chiến.

* Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Đỗ Văn Chiến, sinh năm 1962, quê quán tỉnh Tuyên Quang; Kỹ sư Nông nghiệp, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng khóa X; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII; đại biểu Quốc hội khóa XIII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang; Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Tuyên Quang; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang; Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái; Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc.

Đồng chí Phan Văn Sáu

 

* Tổng Thanh tra Chính phủ Phan Văn Sáu, sinh năm 1959, quê quán tỉnh Đồng Tháp; Kỹ sư cơ khí chế tạo máy bay, Cử nhân Chính trị; Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc Công ty Cơ khí An Giang; Giám đốc Sở Thương mại–Du lịch tỉnh An Giang; Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh An Giang; Bí thư Thị ủy Châu Đốc; Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy An Giang; Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, kiêm Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh An Giang; Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương.


Đồng chí Mai Tiến Dũng.

 

* Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng sinh năm 1959, quê quán tỉnh Hà Nam; Thạc sĩ Kinh tế, Cử nhân Luật, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI, XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Giám đốc Công ty XNK huyện Lý Nhân; Chủ tịch Liên đoàn Lao động huyện Lý Nhân; Chánh Văn phòng Tỉnh ủy; Bí thư Huyện ủy Lý Nhân; Bí thư Thành ủy Phủ Lý; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Nam; Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Hà Nam.

Đồng chí Lê Minh Hưng.

 

* Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Lê Minh Hưng sinh năm 1970; quê quán tỉnh Hà Tĩnh; trình độ Thạc sĩ Chính sách công, Cao cấp lý luận chính trị; là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII.

Đồng chí từng đảm nhiệm các chức vụ: Vụ trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng.

 

Thủ tướng Chính phủ nguyễn Xuân Phúc

(Chinhphu.vn) - Sáng nay (7/4), với đa số phiếu tán thành, Quốc hội đã nhất trí cao bầu Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam.

* Clip Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tuyên thệ nhậm chức

 


Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tuyên thệ nhậm chức. Ảnh VGP/Nhật Bắc

Theo kết quả do Trưởng ban kiểm phiếu Huỳnh Văn Tí công bố, ông Nguyễn Xuân Phúc nhận được 446/490 phiếu đồng ý (chiếm 90,28% tổng số đại biểu Quốc hội), 44 phiếu không đồng ý.

"Như vậy, căn cứ nội quy kỳ họp Quốc hội, ông Nguyễn Xuân Phúc đã trúng cử Thủ tướng nước Cộng hòa XHCN Việt Nam", Trưởng ban kiểm phiếu tuyên bố.

Căn cứ trên kết quả bỏ phiếu, Tổng Thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc đã trình Nghị quyết về việc bầu ông Nguyễn Xuân Phúc giữ cương vị Thủ tướng Chính phủ.

Với 475 đại biểu tán thành (bằng 96,15% tổng số đại biểu, chỉ 3 đại biểu không tán thành) thông qua Nghị quyết này, ông Nguyễn Xuân Phúc chính thức trở thành Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam kể từ hôm nay (7/4).

Thực hiện nghi thức tuyên thệ nhậm chức trước Quốc hội và quốc dân đồng bào, tân Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nói: "Tôi xin trân trọng cảm ơn Quốc hội đã tín nhiệm bầu tôi giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trước cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc, trước Quốc hội, trước đồng bào và cử tri cả nước, tôi xin tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân, với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tôi nguyện ra sức phấn đấu, rèn luyện để hoàn thành tốt các nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó".

Thay mặt Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tuyên bố Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ghi nhận lời tuyên thệ của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc, tặng tân Thủ tướng bó hoa tươi thắm và gửi tới Thủ tướng những lời chúc mừng tốt đẹp nhất, chúc Thủ tướng sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ và thực hiện đúng lời tuyên thệ.

Phát biểu trước Quốc hội sau lễ tuyên thệ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định việc ông được Quốc hội tin tưởng bầu giữ cương vị người đứng đầu Chính phủ là vinh dự to lớn và cũng là trách nhiệm nặng nề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

“Tôi nguyện nỗ lực hết sức mình phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tất cả vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Là người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, cơ quan chấp hành Quốc hội, tôi sẽ cùng các đồng chí thành viên nỗ lực xây dựng Chính phủ vững mạnh, đoàn kết, nhất trí, hiệu lực, hiệu quả, hành động quyết liệt; hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát, hợp tác, ủng hộ của Quốc hội, của Chủ tịch nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và toàn thể nhân dân. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp và kết quả đạt được của các Chính phủ tiền nhiệm; nghiêm túc lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của đồng bào cử tri cả nước; ra sức khắc phục hạn chế, yếu kém; nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế; tập trung cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư-kinh doanh thuận lợi; phát huy dân chủ; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính Nhà nước và trong toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; không ngừng chăm lo đời sống vật chất tinh thần, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an ninh, an toàn cho người dân", tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng trân trọng cảm ơn nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đồng chí Thủ tướng tiền nhiệm đã có đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Nhân dịp này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã tặng nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng bó hoa tươi thắm và chúc nguyên Thủ tướng luôn luôn mạnh khỏe, tiếp tục có những đóng góp cho đất nước.

 

 

Huân chương Lao động Hạng Nhất

Lịch công tác
Hộp thư điện tử

Bản đồ đến công ty